ALBUM THÁNH CA PHÚT HỒI TÂM VOL3

Đời con như chiếc thuyền trôi, lênh đênh xuôi ngược dòng đời .Sóng ba đào xô lấp bủa vây, giữa dòng con chới với tả tơi .Sao con không thấy Chúa, đưa bàn tay đỡ nâng đời con .Để mình con chèo chống, này thuyền con sắp tan giữa dòng

Xin ban thêm niềm tin, để con thấy Chúa luôn đồng hành .Cho con thêm sức mạnh, để con thắng vượt ngàn gian nan .Cho con qua khổ đau, đường thánh giá giúp con tôi luyện .Đức tin thêm vững vàng, tình yêu Chúa nồng nàn chứa chan

Đời con bao nỗi lầm than, long đong vất vả tủi sầu .Ngước nhìn lên Chúa từ nhân, khẩn cầu xin Chúa dủ thương .Xin bên con Chúa hỡi, khi đời con đắng cay khổ đau .Đừng để con quỵ ngã, đừng để con nát tan cõi lòng.

Xin ban thêm niềm tin, để con thấy Chúa luôn đồng hành .Cho con thêm sức mạnh, để con thắng vượt ngàn gian nan .Cho con qua khổ đau, đường thánh giá giúp con tôi luyện .Đức tin thêm vững vàng, tình yêu Chúa nồng nàn chứa chan.

Một trong những bài hát trong album phuthoitam.com vol 3 . Mời Anh Chị Em thưởng thức .

Chùm thơ về chuỗi Mân Côi

Kinh Mân Côi thiết tha trìu mến .Đoàn con dâng, Mẹ dấu yêu ơi! Muôn cung lòng rộn rã đầy vơi. Tháng dấu ân, tràn bao say đắm .Khắp thế trần tâm hồn tươi thắm . Đón hồng ân Chuỗi ngọc thánh thiêng . Là bảo kiếm chiến đấu triền miên . Với ba thù ngày đêm giăng bẫy

Fa-Ti-Ma năm xưa Mẹ dạy . Hãy siêng năng lần chuỗi Mân Côi .Mau ăn năn, thống hối đền bồi . Xa tội đời, canh tân đổi mới . Kinh Mân Côi tin yêu mở lối . Mạch ơn thiêng, màu nhiệm thánh ân. Vui, Sáng, Thương, Mừng lòng thành tâm . Nguyện, gẫm suy tình yêu cứu thế

Hiệp lòng mến yêu, con dâng Mẹ . Chuỗi hồng thiêng diệu vợi yêu thương . Là nấc thang đưa lối Thiên đường . Về bên Mẹ muôn đời vinh phúc.

CHO ĐỜI BAO DẤU LẠ…

Trời nhạt nắng gió từ xa vang vọng,Tiếng kinh chiều đâu đó vẳng xa đưa .Bãi cát vàng mênh mông nằm đợi sóng .Chùm hoa tím bâng khuâng con bướm lượn.Huyền diệu quá thiên nhiên đẹp vô ngần. Lời sứ thần năm đó đang tỏa lan . Đấng toàn năng chờ đợi tiếng xin vâng . Để Ngôi Ba phủ trên hình bóng Mẹ.

Lời kinh ấy đẹp lạ lùng vô kể .Mỗi tích xưa là cả một chặng đường .Lễ hy cứu chuộc… Ngôi Lời Nhập Thể .Chính Tin Mừng loan báo khắp muôn phương. Kinh Mân Côi cho đời bao dấu lạ .Rất nhiệm mầu… giáo hội được chở che . Với những ai tôn sùng khi vấp ngã . Mẹ độ trì soi lối dẫn đưa về.

Kinh Mân Côi sức cuốn hút khác thường . Giản đơn mà chan chứa nghĩa yêu thương . Mẹ nhắc nhở năng chuyên cầu sớm tối . Giải cứu đời thoát lỗi tội nguồn cơn.Chiều hôm nay một mình trên bãi vắng . Biển xôn xao rộn rã tiếng kinh chiều . Chuông tháng mười từng hồi xua hiu quạnh .Lòng bồi hồi vào suy niệm đôi điều.

Chiều hôm nay thấy đời vơi hối hả . Bước chân xiêu nghe sách tháng Đức Bà . Bầu trời cao vài hạt mưa rỉ rả .Trên lối về… con như đã nhận ra

Phép lạ đã cứu một linh mục khỏi lưỡi dao quân khủng bố

Abuna Nirwan là linh mục Dòng Phanxicô, người gốc Iraq, cha từng học ngành y trước khi chịu chức linh mục.Năm 2004, khi cha đang sống tại Đất Thánh, các nữ tu dòng Đaminh Mân Côi, dòng được nữ tu Maria Alphonsine Danil Ghattas (người Palestine đã được phong chân phước năm 2009 và phong thánh năm 2015) thành lập, tặng cho cha một di vật của đấng sáng lập và một tràng chuỗi mà sơ đã từng sử dụng. Cha Nirwan luôn mang chúng bên mình.

Năm 2013, khi Đức Giáo Hoàng Benedict XVI yêu cầu mở án điều tra về một phép lạ để phong thánh cho nữ tu Maria Alphonsine, như thủ tục thường làm, Tòa Thánh đã cho mở huyệt mộ của vị nữ tu. Như thường lệ, việc này sẽ do các giám mục địa phương chỉ định một bác sĩ chịu mọi trách nhiệm các thủ tục. Cha Abuna Nirwan đã được trao nhiệm vụ giám sát việc khai quật và báo cáo như một chuyên viên y khoa..

Hai năm trước ngày phong Chân phước, một điều phi thường đã xảy ra qua lời cầu bầu của sơ (ngoài phép lạ đã được phê chuẩn) như cha Santiago Quemada viết trên blog của mình.Câu chuyện chúng tôi sẽ kể đã xảy ra vào ngày 14.7.2007. Cha Abuna Nirwan về thăm gia đình của mình tại Iraq. Cha đã đi bằng một chiếc taxi mà cha đã thuê ở biên giới Syria. Trong bài giảng trong một thánh lễ tại Bet Yalla, ngài đã kể lại như sau:

“Vào thời điểm đó, tình hình chung rất bất an nên tôi không thể di chuyển bằng máy bay. Điều đó đã bị ngăn cấm. Phương tiện duy nhất có thể sử dụng là một chiếc xe hơi. Theo kế hoạch của tôi là đến Baghdad, và đi từ đó đến Mosul, nơi cha mẹ tôi sinh sống.

Vì tình hình ở Iraq trong thời kỳ đó nên người tài xế lo sợ. Có một gia đình – bao gồm người cha, người mẹ, và một bé gái mới 2 tuổi, xin được đi cùng với chúng tôi. Người tài xế taxi nói với tôi rằng họ đã hỏi, và tôi không phản đối. Họ theo đạo Hồi. Người lái xe là một Kitô hữu. Ông nói với họ rằng có chỗ trong xe, và thế là họ cùng đi với chúng tôi. Chúng tôi đã dừng lại ở một trạm xăng, và nơi đây lại có một thanh niên Hồi giáo xin nếu được cho anh ta quá giang đến Mosul. Vẫn còn chỗ trong xe, vì vậy chúng tôi chấp nhận lời đề nghị của anh ấy.

Vào ban đêm, biên giới giữa Jordan và Iraq không được mở. Khi mặt trời mọc, những hàng rào được mở ra, và có khoảng 50 đến 60 chiếc xe hơi bắt đầu tạo thành một đường dài, tất cả các tài xế lái xe chậm hẳn.

Chúng tôi tiếp tục chuyến đi của mình với sự quyết tâm. Sau hơn một giờ đồng hồ ngồi trong xe, chúng tôi đã đến một nơi, tại đây có một trạm kiểm soát. Chúng tôi chuẩn bị hộ chiếu của mình. Chúng tôi dừng lại. Người tài xế nói: “Tôi sợ nhóm người này.” Trước đây, nơi này đã từng là một trạm kiểm soát quân sự, nhưng các thành viên của một tổ chức khủng bố Hồi giáo đã giết chết những người lính và chiếm quyền kiểm soát nơi đây.

Khi chúng tôi đến, họ yêu cầu xem hộ chiếu của chúng tôi, và họ bắt chúng tôi phải ra khỏi xe. Họ đã lấy hết hộ chiếu đến văn phòng của họ. Một người đàn ông quay lại, quay sang tôi và nói: “Cha, chúng tôi sẽ tiếp tục điều tra. Các bạn có thể đi tiếp đến văn phòng xa hơn nữa.Các bạn đi về hướng sa mạc”. “Tốt lắm”, Tôi trả lời: “nếu chúng tôi phải đi, chúng tôi sẽ làm.” Thế là, chúng tôi đi bộ khoảng 15 phút thì đến cái lều mà họ đã chỉ cho chúng tôi.

Khi chúng tôi đến túp lều, có hai người đàn ông bịt kín mặt bước ra. Một tên một tay cầm máy ảnh và tay kia cầm con dao. Tên còn lại có bộ râu, và đang cầm quyển kinh Koran. Bọn họ đến gần chỗ chúng tôi đang đứng, và một trong số họ đã hỏi tôi, “Cha, cha từ đâu đến?” Tôi đã trả lời với hắn ta là tôi đến từ Jordan. Sau đó, hắn ta đã hỏi chuyện người lái xe.

Ngay sau đó, chúng đổi hướng qua chàng thanh niên đi với chúng tôi; hắn đã túm lấy anh và bẻ quặp tay của anh ra sau lưng và rồi giết chết anh ta bằng dao. Bọn họ đã trói tay tôi ra sau lưng. Rồi hắn ta nói: “Cha à, chúng tôi đang lập thành tích với Thủ lĩnh Al Jazeera. Cha có muốn nói vài lời không? Vui lòng, không được quá một phút.” Tôi đáp: “Không, tôi chỉ muốn được cầu nguyện.” Chúng đã cho tôi một phút để cầu nguyện.

Sau đó, hắn đã đẩy mạnh vai tôi cho đến khi tôi buộc phải quỳ xuống, rồi hắn nói: “Ông là một linh mục, và điều ngăn cấm là không thể để cho máu rơi xuống đất, bởi điều đó là một sự phạm thượng.” Vì thế, hắn đã đến chụp lấy cái thùng rồi quay trở lại với cái thùng để cắt cổ tôi.
Tôi không biết đã cầu nguyện những gì vào lúc đó. Tôi đã rất sợ, và tôi nói với sơ Marie Alphonsine, “Không phải tình cờ mà tôi luôn mang những kỷ vật của sơ bên mình. Nếu Thiên Chúa muốn đem tôi đi khi tôi còn trẻ thì tôi sẵn sàng, còn nếu không, tôi đề nghị với sơ đừng để ai chết nữa.”

Hắn ta nắm lấy đầu tôi, giữ chặt vai tôi, rồi vung dao lên. Một khoảnh khắc im lặng bao trùm, và rồi đột nhiên hắn nói: “Anh là ai ?” Tôi trả lời: “Một tu sĩ.” Hắn đáp lại: “Và tại sao tôi không thể xuống tay ? Anh là ai? ”Và rồi, không để cho tôi trả lời, hắn ta đã nói: “Cha, cha và những người kia hãy quay trở lại xe”. Chúng tôi đã trở lại nơi để chiếc xe.

Từ thời điểm đó trở đi, tôi đã ngừng lo sợ về cái chết. Tôi biết rằng rồi tôi sẽ chết vào một ngày nào đó, nhưng bây giờ tôi hiểu rõ hơn rằng điều đó sẽ chỉ xảy ra khi Thiên Chúa muốn. Kể từ đó, tôi không sợ bất cứ điều gì hoặc sợ bất cứ ai. Bất cứ điều gì xảy ra với tôi đều là bởi thánh ý Chúa, và Ngài sẽ ban cho tôi đủ sức mạnh để vác Thánh giá. Điều quan trọng là phải có niềm tin. Thiên Chúa sẽ luôn chăm sóc những ai tín thác vào Ngài.

Đức Thánh Cha tái lên án nạn lạm dụng trẻ em

VATICAN. ĐTC tái lên án nạn lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên là tội ác, đồng thời mời gọi toàn thể Giáo Hội tích cực bài trừ tệ nạn này.Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 21-9-2017, dành cho Ủy ban Tòa Thánh bảo vệ trẻ em gồm 18 người, nhóm họp tại Roma trong những ngày này dưới quyền chủ tọa của ĐHY Chủ tịch Sean O’Malley, cũng là TGM giáo phận Boston.

ĐTC khẳng định rằng ”Xì căng đan lạm dụng tính dục thực là một sự tàn hại kinh khủng cho toàn nhân loại, nó làm thương tổn bao nhiêu trẻ em, người trẻ và những người lớn dễ bị tổn thương tại tất cả các nước và trong mọi xã hội. Cả Giáo Hội cũng đã trải qua kinh nghiệm rất đau thương. Chúng ta cảm thấy tủi hổ vì những tội lạm dụng do các thừa tác viên thánh chức phạm, những người mà lẽ ra họ phải là những người đáng tín nhiệm nhất”.

ĐTC cũng thẳng thắn nói rằng ”Lạm dụng tính dục là một tội ác đáng kinh tởm, hoàn toàn trái nước và mâu thuẫn với điều mà Chúa Kitô và Giáo hội dạy chúng ta.. Một lần nữa tôi lập lại rằng Giáo hội, ở mọi cấp độ, sẽ áp dụng các biện pháp một cách nghiêm ngặt nhất đối với những người đã phản bội ơn gọi và lạm dụng các con cái của Thiên Chúa. Các biện pháp kỷ luật mà các Giáo Hội địa phương đã chấp nhận phải được áp dụng cho tất cả những người làm việc trong các tổ chức của Giáo Hội.

Tuy nhiên trách nhiệm đầu tiên chính là của các GM, LM, và tu sĩ là những ngừơi đã nhận ơn gọi từ Chúa, dâng hiến đời mình để phục vụ, cảnh giác bảo vệ tất cả những trẻ em, người trẻ và người lớn dễ bị tổn thương”. (Rei 21-9-2017)

Chúa Giêsu có khi nào cười không ?

Theo lời yêu cầu của các đệ tử, một vị linh sư Ấn Ðộ đã kể lại kinh nghiệm về các giai đoạn đời tu của ông như sau:

Giai đoạn đầu tiên của ta là được Thiên Chúa cầm tay dẫn đến xứ sở của hoạt động. Ta đã ở lại đây nhiều năm…

Tiếp đó Ngài đã trở lại và đưa ta đến xứ sở của niềm đau. Tại đây trái tim của ta đã được thanh tẩy khỏi mọi dính bén với của cải trần thế.Sau đấy Ngài dẫn ta đến miền đất của cô đơn. Ở đấy mọi ti tiện nhỏ bé của bản thân ta đều bị thiêu hủy hết, và ta đã có thể đi vào xứ sở của thinh lặng. Trước mắt ta, mầu nhiệm của sự sống và của sự chết đều được tỏ bày.

Nghe thế các môn đệ bèn hỏi:Phải chăng thầy đã đạt tới giai đoạn cuối cùng trong cuộc tìm kiếm của thầy?

Vị linh sư bình thản trả lời: Chưa đâu. Một ngày nọ Thiên Chúa đã nói với ta như sau:”Lần này Ta đưa con vào thăm cung của đền thánh để con được đi vào cung lòng của Ta”.Thế là ta đã đến xứ sở của nụ cười.

Người Tây Phương thường nói: “Một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn”.Niềm hoan lạc, sự vui tươi phải chăng không là nét cốt yếu trên khuôn mặt vị thánh?Kinh Thánh đã nói: “Thiên Chúa là đấng làm hoan lạc tuổi xuân con”. Thiên Chúa làm cho con những hoan lạc bởi vì Ngài chính là niềm vui. Ði vào cung lòng Thiên Chúa là tìm được nụ cười muôn thủa của niềm hân hoan đó.

Nụ cười không chỉ là biểu hiệu của niềm vui. Nó còn là một thách thức trong một hoàn cảnh bi đát. Ðó là nụ cười của bà Sara, bật lên giữa cảnh già nua son sẻ. Thực tế, khi Thiên Chúa cho bà biết sẽ thụ thai mặc dầu đã già lão, thì bà Sara đã bật cười.

Thiên Chúa thường khơi dậy những nụ cười như thế. Tư tưởng của Ngài, hành động của Ngài đều là những nghịch lý đối với con người.Là lời của Thiên Chúa, là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, Chúa Giêsu cũng là sự nghịch lý nhập thể. Cả cuộc sống, lời rao giảng, nhất là cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là một chuỗi những nghịch lý trước con mắt của người đời.

Người đời chạy theo tiền của, danh vọng quyền bính, thì Chúa Giêsu lại tuyên bố: “Phúc cho những ai nghèo khó”.Người đời thích gây bạo động và hận thù, Chúa Giêsu lại dậy: “Phúc cho những ai hiền lành và xây dựng hòa bình”.

Người đời cho rằng cái chết là một bất hạnh tột cùng, là tận điểm của cuộc sống, là kết liễu của tất cả. Chúa Giêsu lại dậy: đó là khởi đầu của hạnh phúc, là cửa ngõ đưa tới sự sống lâu dài.Thánh Phaolô đã diễn tả cái nghịch lý cao vời ấy của Thiên Chúa bằng lời khẳng định sau đây:

“Ðiều mà thế gian cho là yếu hèn, thì đó lại chính là sức mạnh của Thiên Chúa… Những gì người đời cho là điên dại, thì đó chính là lẽ khôn ngoan của Thiên Chúa”.Ðấy cũng phải là xác tín của chúng ta. Với niềm xác tín ấy chúng ta sẽ vượt qua được con đường đầy nghịch lý giữa cuộc sống trần gian này để đạt tới cung lòng của Thiên Chúa, ở đó chúng ta sẽ gặp được nụ cười muôn thủa diễn tả niềm hạnh phúc vô biên của Ngài dành sẵn cho chúng ta

Tiểu Sử Thánh Matthêu

Mátthêu (מתי / מתתיהו, Mattay hoặc Mattithyahu; tiếng Hy Lạp: Ματθαίος, Matthaios, Hy Lạp hiện đại: Ματθαίος, Matthaíos) là một trong mười hai sứ đồ của Chúa Giêsu. Theo truyền thống Kitô giáo, ông cũng được cho là tác giả của quyển Phúc âm Thứ nhất đồng thời là một người thu thuế, biểu tượng của ông là con người.

Còn có tên là Lêvi, anh em với Thánh Tông Đồ Giacôbê Hậu, con ông Alphaeus. Tên Lêvi thuộc dòng dõi tư tế, do cha mẹ đặt cho mờ dần nhường chỗ cho tên Matthêu, có nghĩa là ’Món Quà của Chúa’. Không có giải thích nào và do đâu Matthêu có tên này. Trong danh sách các tông đồ Matthêu luôn được liệt kê vào hàng số bảy hay tám.

Dưới chân thập tự ngày Chúa chịu chết có bà Mary vợ ông Clopas hiện diện. Bà này cùng với các bà khác mang dầu thơm sáng sớm đi ướp xác Chúa. Bà là mẹ Giacôbê (Mc 16,1). Các sử gia đồng ý với nhau Giacôbê con của Clopas hay Cleopas và Giacôbê con của Alphaeus chỉ là một người. Các tên Clopas, Cleopas, Alphaeus hay Alphius chỉ là một nhân vật nhưng cách viết khác nhau, tùy theo tiếng Hy Lạp hay tiếng Aramaic. Thí dụ chữ Capernaum viết cách khác là Kefar Nahum.

Thế kỉ thứ hai sử gia Hegesippus người Palestine, đồng liêu với song thân Đức Mẹ là Gioan Kim, Anna, ghi nhận Alphaeus và Giuse, thợ mộc thành Nazareth là anh em ruột. Matthêu, Giacôbê và Chúa Yêsu họ hàng rất gần, thuộc bên nội vì một đàng con của chú, một đàng con bác. Matthêu và Giacôbê hậu có họ hàng với Gioan và Giacôbê Tiền con của Zêbêđê họ hàng phía bên ngoại. Phêrô, Anrê, Giacôbe Tiền,Giacôbê Hậu làng Capernaum, thân thích với Chúa Yêsu.

Theo luật Roma người thuộc dòng dõi quí tộc, sanh ra làm cha thiên hạ. Nhờ dòng dõi thế giá Matthêu được học để nắm chức vụ quan trọng trong việc chăn dân, trị nước. Matthêu lại có liên hệ mật thiết với vua Hêrôđê Antipa và hoàng gia. Nhờ những liên hệ này mà cả hai anh em đều mắn chức vụ quan trọng trong sở thuế. Sanh tại Capernaum, thuộc quyền kiểm soát của Hêrôđê Antipas. Không là môn đệ Gioan như những tông đồ khác, Chúa Yêsu gọi Matthêu, ông đáp lại bằng cách mời lại Chúa và các môn đệ đến tư dinh dự tiệc mừng. Ngoài Chúa và các môn đệ ra khách dự tiệc hôm đó toàn là dân sở thuế vì thế mà nhóm Pharisiêu và bè Biệt Phái hè nhau đánh phủ đầu, kết án là bạn của phường tội lỗi và gian ác (Mat 9,11-12). Matthêu không chối điều này vì biết Đức Kitô ví người thu thuế và dân ăn chơi cùng phường với nhau. Ông tìm nguồn an ủi nơi câu: Ta không đến kêu gọi người công chính, nhưng kẻ tội lỗi (Lc 5,29).

Matthêu theo Chúa gây chấn động toàn vùng vì ảnh hưởng của ông và tầm quan trọng vị trí của thành. Capernaum nằm giữa đường đi từ Đamas và cảng Arce, gần cửa sông Jordan, một trị trấn buôn bán, sầm uất tiện lợi cho cả đường thủy lẫn bộ của miền thập tỉnh và các vùng phụ cận. Ưu điểm khác Capernaum nằm ngay biên giới hai tiểu vương Herod Phillip và Herod Antipas. Không những tiện cho việc thuế má mà còn là nơi mọi tin tức nóng hổi xa gần đều đổ dồn và xuất phát từ cửa miệng những con buôn. Họ vừa buôn hàng vừa buôn điều. Hàng hoá trao đổi gồm bồ câu, gia súc, trái cây, cá khô, các loại bình sứ và vải tơ lụa. Buôn điều vì buôn bán tin họ đưa đến và tin họ mang đi. Là nơi quy tụ nhiều công nhân thợ thuyền, thợ khuân vác bến cảng, dân vá chài lưới thuê, sửa và sơn thuyền, con buôn và quán trọ. Vì lý do này Chúa chọn Capernaum là địa điểm xuất phát cho việc rao giảng Tin Mừng. Mathêu từ giã chức vụ phòng thuế đi theo Chúa gây một tiếng vang thiên hạ đồn nhiều ngày đường, khắp miền lục tỉnh và các vùng phụ cận.

Khó xác định nguồn tin nào xác tín hơn tin nào về cuộc đời rao giảng Tin Mừng của Matthêu. Eusibius xác định rõ ràng Mathêu rao giảng tại Ethiopia. Ambrose lại nói ngài truyền giáo tại Persia; theo Isidore thánh thân truyền giáo tại Macedonia. Clement thành Alexandria tin thánh nhân chết bệnh lúc tuổi già; trong khi đó Talmud quả quyết ngài bị hành quyết.

Sử gia Eusibius ghi nhận Matthêu giảng bằng tiếng Do Thái.Viết bằng tiếng Aramaic cho giáo dân phía bắc Palestine. Matthêu viết bằng tiếng Aramaic, các phúc âm khác viết bằng tiếng Hy Lạp. Chính Matthêu tự dịch Phúc âm sang tiếng Hy Lạp, sao thành nhiều bản. Bản gốc tiếng Aramaic của Matthêu hiện nay lưu tại thư viện Casesarea do thánh Pamphilus lưu lại, dù không nguyên vẹn nhưng nhiều bản thảo còn tồn tại. Matthêu nhắc đi nhắc lại nhiều lần Đấng Mesiah loan báo trong Cựu Ước chính là Đức Yêsu. Mathêu cũng là người duy nhất nhắc đến dụ ngôn người kia tìm được ngọc quý chôn trong thửa ruộng, ông về nhà bán hết của cải mua ruộng ám chỉ về chính ông.

Có quá nhiều thuyết về cuộc đời rao giảng Tin Mừng của vị tông đồ này. Socrates tin Matthêu truyền giáo và qua đời tại Ethiopia; trong khi đó thánh Ambrose xác định Matthêu giảng đạo và qua đời tại Macedonia, Persia. Thánh Clementê thành Alexandria thêm chi tiết Matthêu ăn chay trường, không ăn thịt cá. Thực phẩm là rau, các loại đậu và không chết tử vì đạo mà chết bệnh. Talmud lại xác định Mathêu tử đạo. Goodspeed giải thích sự khác biệt về vùng truyền giáo và cái chết của Mathêu có ầm lẫn về nhân sự giữa Matthia và Mathêu gây nên bởi sự có mặt của thánh tông đồ Andrê. Vị tông đồ này là bạn đồng hành với hai vị tông đồ kia nên chứng tích truyền giáo của ba thánh nhân hợp lại khiến các sử gia không sao gỡ nổi. Nguyên nhân khác lầm lẫn địa danh. Có hai Ethiopia, một bên Africa, một bên Persia. Sự lầm lẫn này do con buôn gây nên gọi một vùng thuộc lãnh thổ Persia là Ethiopia. Rất có thể Mathêu qua đời trên đường đi từ Ethiopia về Egypt. Ngài là vị tông đồ có kiến thức nhất trong số mười hai, nói và viết được các ngôn ngữ Aramaic, Hy Lạp và La Tinh.

Một phần thánh tích được tôn kính tại nhà thờ chính toà Salerno, Ý. Với các chỉ dẫn phương cách lưu giữ hài cốt. Phần khác tôn kính tại thánh đường Santa Maria Magiore bên Rôma.

Ơn gọi là một chuyến đi làm chứng

1.Cách đây đã mấy chục năm, một dịp tôi đến Vatican vì nhu cầu liên đới hiệp thông, tôi được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mời chia sẻ với Ngài bữa tối lúc 20 giờ.

Bữa tối hôm đó chỉ có Ngài, hai Đức ông thư ký, và tôi. Lúc chia tay, Đức Thánh Cha bảo tôi hãy chờ một chút, Ngài về phòng. Vài phút sau, Ngài đi ra, tay cầm một chiếc đồng hồ đeo tay toàn màu trắng. Ngài âu yếm trao cho tôi quà tặng quý đó.

2.Chiếc đồng hồ này vẫn ở bên tôi, nay để cạnh đầu giường, nó còn hoạt động rất tốt. Nó không nói. Nhưng tôi như nghe được từ nó mấy điều khuyên nhủ từ Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

3.Điều khuyên thứ nhất là : Đức Thánh Cha rất thông cảm với những lo sợ của tôi, về ơn gọi của mình. Ngài khuyên tôi hãy can đảm lên. Như chiếc đồng hồ nhỏ không ngừng đi. Tôi cũng hãy đi không ngừng, trên đường làm chứng cho Chúa.

4.Điều khuyên thứ hai là : Thời gian của chiếc đồng hồ được đếm từ những bước nhỏ, nhưng lại làm nên một chuyến đi dài phong phú.

5.Hai điều khuyên trên đây đã giúp tôi rất nhiều trong suốt mấy chục năm qua, và nhất là ngay chính lúc này.

Dù ở cương vị nào, tôi luôn coi mình là kẻ được sai đi làm chứng cho Chúa là Tình Yêu thương xót. Chính Đức Giáo Hoàng sai tôi đi, Ngài sai tôi đi, mặc dầu Ngài biết rõ tôi rất yếu đuối, hay lo sợ. Dù về hưu, tôi cũng vẫn là kẻ được sai đi làm chứng cho Chúa theo hoàn cảnh của mình.

6.Điều mà Chúa muốn tôi thực hiện, khi làm chứng cho Chúa, không phải là lý thuyết về Chúa, mà là những kinh nghiệm bản thân về Chúa.
Chúa đã thương xót tôi là kẻ tội lỗi, yếu hèn thế nào. Chúa đã đồng hành với tôi cách nào, để ơn gọi của tôi trở thành một chuyến đi của hy vọng và của niềm tin.

7.Thực vậy, chuyến đi ơn gọi là những chuỗi dài những bước đi khác nhau.Có những bước đi trong tăm tối, nghe từng hơi thở rên xiết.

Có những bước đi được Chúa đến ủi an, Chúa ủi an bằng nhiều cách. Hoặc do một Lời Chúa, hoặc do một người nào đó, hoặc do một Thánh Lễ, hoặc do một biến cố vui, hoặc do một bất ngờ có sức thay đổi lòng tôi.

8.Từ những chuỗi dài của kinh nghiệm về Chúa, tôi có một hình dung về Chúa. Chúa đã hy sinh mạng sống vì tôi. Người đã chết và đã sống lại. Người đang ở bên tôi. Tôi đón nhận Người. Tôi muốn cùng với Chúa cho đi chính mạng sống của tôi. Chỉ có Tình Yêu như thế mới là điều mà tôi thường hay muốn làm chứng theo ơn gọi của tôi…

9.Mấy đêm vừa rồi, tôi cảm thấy mình đau đớn, rã rời, như không còn sức để sống. Thêm vào đó, tôi nghe như có tiếng quỷ Satan nói bên tai tôi là Chúa đã ruồng bỏ tôi, vì tôi quá tội lỗi.
Nhưng chính lúc đó, chiếc đồng hồ nhỏ đã nhắc cho tôi nhớ lại Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, và nhất là nhớ lại Đức Mẹ Maria. Bởi vì trước khi trao tặng chiếc đồng hồ, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã trao tặng tôi một chuỗi tràng hạt, và Ngài nói với tôi : “Hãy can đảm”.

10.Đúng là với Đức Mẹ và nhờ Đức Mẹ, tôi đã vững tin vào ơn gọi của tôi.Suốt hành trình hơn 90 năm tuổi đời, trong đó có 63 năm tuổi linh mục, giám mục, tôi đã được Đức Mẹ ủi an.Nhờ Mẹ, can đảm của tôi không là tự hào, tự tin, mà là phó thác như con thơ trong lòng mẹ hiền. Tôi phó thác trong đức tin.

11.Đức Mẹ đã dắt dìu tôi từng bước nhỏ. Đức Mẹ cũng quan tâm đến tôi từng chi tiết rất thường. Không phải Mẹ thấy, mà Mẹ còn ở bên tôi. Giữa Mẹ và tôi, thường có những trao đổi tâm tình, không tên mà đậm đà tha thiết. Trong mọi sự, Mẹ đều để ý đến đức tin. Mẹ giáo dục tôi rất nhiều về đức tin trong khiêm nhường.

12.Mẹ thường chỉ vào chiếc đồng hồ nhỏ mà nói với tôi : “Con ơi, chỉ một phút, chỉ một giây thôi, con vẫn có thể đón nhận được rất nhiều, cũng như con cũng có thể cho đi rất nhiều. Đón nhận từ Tình Yêu thương xót Chúa, và cho đi từ Tình Yêu thương xót Chúa.Làm chứng điều đó bằng kinh nghiệm của con. Đó là ơn gọi của con lúc này”.

13.Nghe vậy, tôi nghĩ ngay đến ơn đầu tiên và thường xuyên tôi đón nhận từ Tình Yêu thương xót Chúa là ơn Chúa tha thứ. Ơn tha thứ, mà tôi đón nhận từ Chúa, là những chuỗi dài nối tiếp, từng phút từng giây. Tôi luôn là kẻ có tội. Chúa luôn là Đấng thứ tha. Khởi đi từ nhận thức đó, tôi mới biết yêu thương người khác, như Chúa yêu thương tôi.

14.Nếu nên nhấn mạnh đến một ơn nào, để đặt tên cho ơn gọi của tôi là một chuyến đi dài, thì tôi xin nhấn mạnh đến ơn tha thứ. Như vậy, ơn gọi của tôi là chuỗi dài làm chứng cho ơn tha thứ của Chúa. Vì Chúa là Tình Yêu thương xót.

15.Hôm nay, tôi xin nói lên điều đó, theo kinh nghiệm của tôi, và cũng để hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Mẹ ở Fatima. Ở Fatima, Đức Mẹ kêu gọi sám hối, trong sám hối hãy tin vào Tình Yêu thương xót Chúa. Chúa là Người Cha nhân hậu, hết lòng tha thứ cho bất cứ người con nào trở về (x. Lc 15, 11-32). Mỗi ngày tôi đều trở về, và mỗi ngày Chúa vẫn thứ tha. Tôi không ỷ lại vào lòng thương xót Chúa để mà phạm tội. Lòng thương xót Chúa cũng không bao giờ là cớ để tôi phạm tội. Tôi làm chứng điều đó. Tôi làm chứng, đem an ủi đến cho bao người và cho chính tôi. Xin hết lòng tạ ơn Chúa nhân lành.

“Theo Báo Công giáo và Dân tộc, website: cgvdt.vn”

CÙNG ĐI VỚI CHÚA

Đức Giê-su rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mời Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. (Lc 8,1-2)

Đồng hành với Đức Giê-su, không chỉ có Nhóm Mười Hai, mà còn có các phụ nữ – là những người đã được Ngài trừ cho khỏi quỷ và chữa lành bệnh. Tác giả Lu-ca còn cho biết thêm, họ “lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giê-su và các môn đệ.” Tuy nhiên, không phải chỉ có vậy, đi theo ông thầy Giê-su, họ còn bị đòi hỏi nhiều hơn nữa: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,37). Như vậy, tất cả mọi người, không phân biệt nam hay nữ, giàu hay nghèo, kể cả hạng người tội lỗi, thu thuế hay chài lưới… đều có cơ hội như nhau trong việc bước theo Đức Giê-su. Chỉ cần họ dám sẵn sàng từ bỏ mọi sự để cùng đi với Ngài.

Mời Bạn: Khi cảm nhận được vinh dự làm môn đệ Chúa Ki-tô, thánh Phao-lô đã sung sướng kêu lên: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?” (Rm 8,35). Với thánh Phao-lô, không một sức mạnh nào có thể cản bước ngài trong việc dấn thân cùng Chúa Ki-tô để phục vụ Tin Mừng. Thế còn bạn, liệu có lý do nào quan trọng hơn khiến bạn chùn bước không?

Sống Lời Chúa: Dành trọn Chúa Nhật cho các hoạt động phục vụ Tin Mừng: thăm viếng người đau yếu, cao tuổi…

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, Chúa tin tưởng kêu gọi con đi theo Chúa. Xin đừng để một sức mạnh nào có thể cản bước chân con bước đi theo Chúa.

câu chuyện về linh mục và mục sư

Bình minh lên… Đó là khi ánh mặt trời rạng rỡ bắt đầu đặt những bước chân đầu tiên xuống thềm trái đất. Từng dải nắng vàng óng lan dần…trải lên muôn loài cái ấm áp long lanh.

Tôi hồi hộp dắt chiếc “cân đẩu vân” ra khỏi nhà. Tất nhiên đó không là một đám mây mà tôi có thể tót lên bay vù vù như Tôn Ngộ Không. Đó là chiếc xe máy màu trắng, giống màu của những đám mây, nên tôi gọi nó là “cân đẩu vân”.

Tôi có cuộc hẹn với một Mục sư, tuy tôi là một người Công giáo. Hai điều này nghe không có gì liên quan đến nhau, ngoại trừ cả hai đều thờ Chúa. Tôi biết vị Mục sư này khi tham gia cuộc thi Viết Cho Niềm Tin, của một Hội Thánh Tin Lành bên Mĩ. Chúng tôi đều là nhóm đạt giải.Năm ngoái Mục sư từ Úc về Việt Nam. Tôi, một kẻ không chịu được nóng, càng không chịu được lạnh, đã phải đóng quần áo dày cộm, phóng xe đi dưới cái rét thấu xương, trong làn mưa lạnh buốt.

Người ta đã từ tận nước Úc xa xôi về đây gặp mọi người, chẳng lẽ mình chỉ có vài km đường mà lại không đến? Mưa một tí, rét một tí mà cũng ngại thì còn làm gì được cho đời? Nghĩ thế nên tôi bắt mình phải đi.Mới ra khỏi nhà thì tay tôi run run vì rét, lái xe một lúc thì cơ thể quen dần, và hết run, tuy chưa hết rét.

Lần gặp đó, có khoảng gần mười người tất cả. Tôi không nhớ rõ. Cái tuổi ba mươi tư của tôi có bộ nhớ khá “hom hem”, phản ánh tình trạng: “Gái ba mươi tuổi đã toan về già.” Mà đúng thế thật, chỉ một năm sau là tôi chẳng nhớ gì về buổi gặp đó. Trừ một gương mặt và một cái tên: Thanh Liêm!

Có hai Mục sư trong buổi thông công đó, nhưng tôi không ấn tượng gì về anh Mục sư trẻ, chỉ hơn tôi vài tuổi. Mà tôi lại ấn tượng với Mục sư Liêm, nhiều hơn tôi chừng hai mươi tuổi. Có điều gì đó rất đặc biệt nơi Mục sư Liêm, mà tôi đã “giật mình” ngay khi vừa đối diện. Cái “giật mình” đó lại càng trở nên khó quên hơn khi tôi bị ngã xe cách lãng xẹt trên đường về. Và từ hôm đó trở đi, cứ mỗi lần nghĩ đến buổi gặp gỡ, là tôi nghĩ đến cú ngã xe. Cứ nghĩ đến cú ngã xe, là tôi lại nghĩ đến Mục sư Thanh Liêm. Chứ sao nữa! Vì nếu không có Mục sư, tôi còn lâu mới đến!

Sau đó, tôi cất Mục sư Liêm vào đâu đó sâu trong bộ nhớ “đã toan về già” của mình. Để thời gian trôi qua, và giữa chúng tôi cũng không hề có thêm sự liên lạc nào. Tất nhiên tôi và nhóm tác giả đều có kết bạn Face book với nhau.

Nhưng chúng tôi rất ít tương tác. Nhất là tôi và Mục sư Liêm, càng chẳng có cuộc trò chuyện nào. Vì Mục sư từng nói với nhóm là rất bận, nên tôi cũng không muốn làm phiền.

Trong năm đó, tôi gặp một sự cố khá nghiêm trọng với cái Face mà tôi vẫn sử dụng. Tôi phải khóa Face đó lại, và dùng Face cũ. Tôi lại gửi lời mời kết bạn cho Mục sư Liêm và mấy Mục sư của chương trình Viết Cho Niềm Tin, cùng nhóm tác giả. Chờ một thời gian thì mọi người cũng lần lượt xác nhận bạn bè với tôi. Nhưng Mục sư Liêm thì không thấy đáp lời.

Tôi nghĩ có lẽ Mục sư bận quá… Và tôi cũng nhanh chóng quên chuyện này, cho đến một ngày nọ, mà cái “ngày nọ” ấy là ngày tháng nào thì tôi cũng không nhớ, Face Book thông báo: Thanh Liêm đã chấp nhận lời mời kết bạn của bạn. Chà! Tại sao bây giờ mới chấp nhận nhỉ? Cứ tưởng Mục sư Liêm không dùng Face!

Rồi tôi lại thấy Mục sư rất chịu khó đọc bài trên Face, nhờ những cái “Like”. Tôi đã nghĩ có thể Mục sư “like” trước rồi đọc sau, hoặc bận quá cứ “like tạm” để đấy mà không có thời gian để đọc. Vì những bài được “like” đó đều khá nhiều chữ. Và tôi nhầm. Mục sư Liêm đã vào bình luận bài đăng trên Face của tôi. Nghĩa là có đọc.

Những chi tiết rất nhỏ đó thôi, cũng khiến tôi suy nghĩ. Vì các Mục sư khác đều rất nhanh chóng nhận lời kết bạn với tôi trên Face, nhưng không bao giờ tỏ thái độ gì. Nếu tôi nhắn tin nói chuyện, thì họ trả lời. Nhưng xa xôi như mỗi người thuộc về một vũ trụ khác. Những bài của tôi, chẳng biết họ có để ý hay không, mà không có dấu hiệu gì. Còn Mục sư Liêm, tuy là người cuối cùng xác nhận kết bạn với tôi, nhưng lại là người đầu tiên nói chuyện với tôi, “để mắt” tới cái Face của tôi như một người bạn thật sự. Thật đặc biệt.

Vì thế, tôi đã rất vui khi Mục sư Liêm nói trên Face của tôi rằng sẽ về Việt Nam vào dịp giáp tết cổ truyền năm 2017 này, và muốn gặp tôi cùng các anh em Tin Lành. Gặp Mục sư Liêm thì tôi rất sẵn sàng, vì qua lần hội ngộ năm ngoái, tôi đã cảm nhận một chút về cách ứng xử của Mục sư. Nhưng còn có cả các anh em Tin Lành nữa! Tôi rất ngại. Vì mọi cuộc gặp với Tin Lành, tôi đều phải rất…nói nhiều. Vì họ hỏi nhiều. Mà toàn những câu hỏi mang ý phản đối.

Mỗi lần gặp người Tin Lành về, dù là gặp Mục sư hay tín đồ, tôi đều thấy muốn “ngậm miệng” một thời gian cho cái miệng được nghỉ ngơi hồi sức. Vì đã phải nói quá nhiều trong một thời gian quá ngắn. Tuy Công giáo và Tin lành đều có chung quyển Kinh Thánh, khác cách dịch. Chung nền tảng giáo lý và tín lý. Nhưng những tín điều về Đức Mẹ, về các Thánh, và cách cử hành phụng vụ…thì đều khác nhau. Và tôi nhận thấy hai bên có nhiều hiểu lầm. Mà tôi, một kẻ nhỏ nhoi cao chỉ đến mét rưỡi, làm sao có thể là sứ giả hòa bình cho “cuộc chiến kinh điển” nhất lịch sử tôn giáo này…?

Họ đều sẽ hỏi: “Kinh Thánh không có đoạn nào nói Bà Maria đồng trinh trọn đời, vì có đoạn chép ”Các môn đệ đến nói với Chúa Giêsu: Thầy ơi, có mẹ và các anh em của Thầy đến gặp Thầy…” ( Mt 12, 46 – 50 ). Nghĩa là sau khi sinh Chúa Giêsu, bà Maria và ông Giuse còn sinh thêm những người con của hai người nữa. Kinh Thánh chép Đức Maria giữ mình đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu, chứ không nói là Đức Maria đồng trinh trọn đời…”

Tôi thì vặn lại thế này: “Chính xác thì đoạn nào, câu nào nói sau khi sinh Chúa Giêsu, bà Maria và ông Giuse sinh thêm những người con? Nếu thật sự Chúa Giêsu có các anh em kiểu đó, thì phải có ghi trong gia phả Chúa Giêsu chứ?
Và tôi sẽ “giảng” một bài về sự chọn lựa của Thiên Chúa Cha để chuẩn bị cho Chúa Giêsu một người mẹ đặc biệt, một người cha đặc biệt và một gia đình đặc biệt.

Đại loại là, đến những con người như chúng ta còn muốn chọn lựa điều tốt đẹp nhất cho con mình, huống chi đây là Thiên Chúa! Chẳng lẽ Người không muốn có những điều phi thường nơi gia đình, nơi người phụ nữ sẽ sinh ra con Thiên Chúa, nơi người đàn ông sẽ là trụ cột cho gia đình trần thế của Chúa Giêsu?… Chúa Giêsu sống ba mươi ba năm trần gian, mà chỉ ra đi rao giảng có ba năm cuối, mà Người ở trong gia đình những ba mươi năm đấy nhé! Sống trong nhà với Thiên Chúa Cực Thánh, lẽ nào Maria và Giu se lại như những người đàn ông đàn bà bình thường hay sao?

Coi thường Maria và Giu se, phải chăng các bạn đang nghi ngờ Chúa Giêsu có chắc chắn là Đấng Cứu Thế, là Thiên Chúa thật hay không?
Rồi nào là vấn đề ảnh tượng, họ bảo: Kinh Thánh nói rất rõ ràng, rằng Thiên Chúa ghét làm hình tượng… Gọi các Linh mục là cha: không đúng.Gọi Đức Giao Hoàng là Đức Thánh Cha: phạm thượng, từ đó chỉ có thể nói về Thiên Chúa… Và họ không tin bàn tay Linh mục lại có thể hóa bánh và rượu thành thịt và máu Chúa Giêsu. Họ không tin một con người là linh mục có thể tha tội cho người khác, chỉ Chúa mới có quyền tha tội. Họ không tin Thánh Thủy, bàn tay Linh Mục không thể biến nước thường thành nước thánh…và hàng một nghìn lẻ một điều họ không thể tin được là công giáo lại tin.

Tôi “giảng” bằng cách liên hệ từ Cựu Ước đến Tân Ước. Môsê có phải là Chúa không, hay là một con người? Thế mà ông ấy cứ giơ tay lên thì quân Israel thắng trận, khi ông mỏi tay mà hạ xuống, Israel thua. Ông Aharon và ông Khua đã phải đỡ tay ông Môsê để ông có thể giơ tay được mãi, nhờ vậy mà quân Israel cứ thắng (Xh 17, 8 – 13). Cây gậy của ông Môsê cũng đã làm nên bao phép lạ trước Pharaol, và khiến biển rẽ làm hai…Chẳng lẽ đối với Chúa, cậy gậy vô tri vô giác lại cao trọng hơn bàn tay những con người? Mà thân thể con người là “đền thờ của Thánh Linh” đấy chứ?…

Chúa không thể dùng bàn tay của “đền thờ Đức Thánh Linh”, bàn tay Linh mục để làm trung gian cho quyền năng và tình thương của Thiên Chúa sao? Ừ thì Linh mục là người, không có quyền tha tội cho người khác với tư cách một con người. Nhưng Linh mục ngồi trong tòa giải tội đó với vai trò trung gian, giống cái gậy của Môsê! Linh mục nói: “…Vậy nhờ tác vụ của Hội Thánh, tôi tha tội cho bạn nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Nghĩa là chính Chúa Thánh Linh hiện diện tại đó, để tha tội qua người Linh mục!

Tôi cũng nhắc đến việc Phaolô đặt tay chữa lành và ban Thánh Thần cho người ta (Cv 19, 4 – 6). Vậy Phaolô không phải là người hay sao? Ông lấy đâu ra quyền năng đó? Tại sao Thiên Chúa không tự mình ngự xuống trên những ai đón nhận Người qua lời chứng của Phao lô, mà ông cứ phải đặt tay thì họ mới nhận được Thánh Thần, được chữa lành hay được đuổi quỷ? …Tại sao Chúa không sai các Thiên sứ xuống đánh trận với Israel để họ dễ dành chiến thắng, mà ông Mô sê lại cứ phải giơ tay lên?

Và rất nhiều trích dẫn Kinh Thánh tôi nêu ra để đối luận với họ. Họ cho rằng tôi bị nhồi nhét quá kỹ, mà không nghĩ đó là sự xác tín cá nhân của tôi. Là công trình bao tháng năm tôi đào bới Kinh Thánh trong nỗi cô độc. Tôi thật sự không thích việc biến Kinh Thánh thành vũ khí chiến đấu với nhau. Công Giáo và Tinh Lành như hai anh em trong một gia đình của Người Cha Thiên Chúa, nhưng cứ như hai cực cùng dấu của một thanh nam châm, cứ chống lại nhau, đẩy nhau ra xa, hoặc tìm cách khuất phục nhau. Mệt!
Thật lòng mà nói, tôi rất ngưỡng mộ Tin Lành vì họ giỏi Kinh Thánh, họ vững vàng và dạn dĩ trong việc thể hiện đức tin. Họ có tầm nhìn rất “chiến lược” trong việc mở rộng chương trình “Môn đồ hóa” cho các tín đồ.

Họ luôn chăm sóc đời sống đức tin của nhau rất chu đáo, và phong cách sống của người Tin Lành rất tử tế. Ở đây, tôi không muốn nhắc đến các Hệ phái “ đi lạc”, mà chỉ nhìn chung cách tổng quát về các Hệ phái “chính đạo”. Tuy ngay cả những người Tin Lành theo “lạc giáo” ( như các Hệ Phái Chứng nhân Giêhôva, Đức Chúa Trời Mẹ, Phúc Âm Đời Đời, Mặc Môn, Tia Sét Phương Đông…) họ cũng ứng xử khá lịch thiệp.

Tóm lại là tôi thấy thật oan uổng cho đời sống đức tin của Công Giáo và Tin Lành nếu chúng ta cứ loại bỏ lẫn nhau. Cả hai đều có những ưu và nhược điểm cần hỗ trợ bổ sung cho nhau, để cùng nhau bước vững vàng trong ơn nghĩa Chúa.Nghĩ miên man về chiến tranh ngầm của hai anh em Công Giáo – Tin Lành, tôi đã định không đi giao lưu.

Thế mà chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào, mà tôi lại nhắn vào inbox của Mục sư, tôi cũng không nhớ là mình đã hỏi cái gì, nhưng Mục sư trả lời luôn là đang ở Việt Nam rồi, và cho tôi biết ngài dự định xuống Hải Phòng. Mục sư đã thể hiện rõ sự tôn trọng tôi, khi nói với tôi trước. Để nếu tôi có trở ngại gì vào ngày đó, thì Mục sư có thể thu xếp ngày khác phù hợp với tôi, rồi báo cho các anh em Tin Lành sau, để có thể gặp được đầy đủ những người mà Mục sư muốn gặp. Tôi chuẩn bị cho lời từ chối của mình bằng một câu nói là sẽ thu xếp. Ý tôi là có thể tôi sẽ không đến.

Và đến hôm ấy, cũng không hiểu trời xui đất khiến thế nào, mà tôi cũng lại là người nhắn tin hỏi thăm Mục sư trước. Có thể trong lúc đó, tôi bỗng dưng muốn nói chuyện với ai đó… và nghĩ là nói chuyện với Mục sư Liêm cho nó lành…?! Và câu trả lời của Mục sư là đang ở Hải Phòng rồi. Người hỏi tôi có đến được không? Tôi nói là để tôi thu xếp, mà thật ra chẳng có việc gì phải thu xếp cả. Chỉ là tôi ngại “đấu khẩu” nên không muốn đi. Thế nhưng tôi nghĩ: Người ta từ ngàn dặm xa xôi về đây, trời thì không nắng không mưa, lại ấm áp chứ đâu có rét! Tôi nhắn lại là tôi sẽ đến.

Mục sư Liêm nhắn cho tôi địa chỉ nhà thờ, nơi Mục sư đang ở đó với Mục sư Hiền và mấy anh em Tin Lành nữa. Tôi dắt xe máy ra khỏi nhà. Thôi được rồi, gặp thêm lần nữa xem sao! Điều gì nơi ông Mục sư này khiến tôi muốn tìm hiểu đến vậy? Đấu khẩu một chút cũng không sao. Cả năm qua tôi cũng đã cho cái miệng của mình nghỉ ngơi khá nhiều rồi.

Tôi đi mà không biết rõ nơi tôi cần đến. Địa chỉ không có số cụ thể. Tôi thì không có số điện thoại của Mục sư Liêm. Thật ra năm ngoái thì tôi có số của cả hai Mục sư, nhưng cả năm không liên lạc gì, tôi không chắc là số đó vẫn gọi được. Mà tôi cũng sơ xuất, lẽ ra khi Mục sư Liêm hỏi số điện thoại của tôi, thì tôi cũng nên hỏi số của Mục sư chứ, thật là…!

Ghi nhớ địa chỉ, tôi vừa đi vừa xác định phương hướng trong đầu. Đi theo tên phố, rồi theo tên xóm, tên đường…và tôi bất ngờ dừng xe ngay trước cổng nhà thờ. Tuyệt, tạ ơn Chúa! Mục sư Hiền ra cổng đón tôi, tất nhiên là có cả Mục sư Liêm nữa.

Mục sư Liêm dang cánh tay định chào đón tôi bằng một cái ôm thân thiện, kiểu Úc. Nhưng tôi chưa đi Úc bao giờ, suốt đời tôi chưa từng bước chân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nên tôi bối rối chỉ bắt lấy bàn tay ấm áp của Mục sư, mà lờ đi cái ôm kiểu Úc ấy. Cái bắt tay của một đứa chuyên chào hỏi bằng… lời như tôi là khá xa xỉ.
Vào phòng khách nhà thờ, căn phòng khá rộng, đủ cho năm mươi kẻ như tôi lê la. Tôi cười thật tươi để che dấu vẻ ngại ngùng.

Vì dường như mọi người đều biết có tôi sẽ đến. Nên không ai hỏi tôi là ai, sao là người Công Giáo ở Việt Nam mà lại quen một Mục sư ở tận bên Úc? Tôi vui vẻ nói chuyện, mà thấy khá mất tự nhiên, và lạnh. Không hiểu sao tôi lại thấy lạnh, khi trời thì rất ấm. Có thể do tôi thấy trời ấm nên mặc ít áo rét. Đường thì xa, nên tôi ngấm lạnh.

Còn cái sự mất tự nhiên kia, khác với phong độ của tôi khi gặp người Tin Lành. Tôi thoáng có cảm giác mọi người đang nghĩ tôi …”phải lòng” Mục sư Liêm. Kệ họ. Muốn nghĩ sao thì nghĩ. Hơi đâu bận tâm đến ý nghĩ của người khác làm gì.

Và đúng là tôi chẳng còn bận tâm chuyện đó, khi một chú trong nhóm bắt đầu “khởi kiện”:“Bên Công Giáo thờ Maria là sai Kinh Thánh…Bà Maria cũng chỉ là tạo vật…” Tôi trả lời: “Dạ, không phải là thờ đâu ạ, mà là tôn sùng…” Thật ra vấn đề này nhiều người Công Giáo cũng không nắm rõ, nên khiến người Tin Lành hiểu lầm.

Tôi chưa kịp nói tiếp, thì chú khẳng định thêm: “Đúng là thờ mà…”Tôi chưa kịp mở miệng để kích hoạt “tài khoản giáo lý” của tôi, thì Mục sư Liêm đã cắt ngay lời chú ấy. Thế là chú hiểu ý, tuân phục mệnh lệnh ngầm. “Chiến tranh” vừa mới nhen nhóm đã được dập tắt. Rồi Mục sư Liêm kể chuyện. Hình như ông kể câu chuyện của nhà văn Công Giáo có tên Chesterton của nước Anh, tôi không nhớ nhưng thấy rất vui và ý nghĩa… Tôi lại một lần nữa bị ấn tượng với cách cư xử rất hay của vị Mục sư ấy.

Vì trong những lần giao lưu kiểu này, tất cả sẽ đều tham gia thuyết phục tôi, nhất là hàng Mục sư. Vậy mà ở đây, tôi lại được chính vị Mục sư ấy nghiêm sắc mặt che trở. Thế nên mọi người vui vẻ đổi chủ đề.Tôi vốn đã rất ấn tượng với cách ứng xử của Mục sư Liêm. Khi xuống Hải Phòng, người đã hỏi, “Thoa có đến được không?” Ông gọi tôi bằng cái tên rất gần chứ không nói là :”Mời bạn đến”, hay “Mong bạn cố gắng thu xếp… tôi đã từ xa xôi về đây, để gặp mọi người, mong bạn cùng có mặt để buổi thông công được đầy đủ những gương mặt thân quen…”

Đó là cách mà người ta sẽ nài nỉ được ai đó. Và tôi không phải là người thích sự nài nỉ đó. Tôi thích được tự do trong những quyết định của mình. Câu hỏi: “Thoa có đến được không…?” của Mục sư đã rất thành công trong việc mời được tôi. Vì nó cho tôi cảm giác được tự do, với sự chân thành muốn gặp tôi được thể hiện từ trước.
Tôi thấy nể ông Mục sư này. Mỗi lần gặp, ông đều để lại trong tôi những ấn tượng rất nhỏ, mà tiếng vang thì rất lớn. Mục sư không nói nhiều, không thao thao bất tuyệt những Kinh Thánh và Lời Chúa. Mà tham gia vào câu chuyện của mọi người cách rất nhịp nhàng, vui vẻ.

Tôi cũng không phải “giảng” gì cả, mà vui vẻ lắng nghe, nói ít thôi, để còn quan sát và cảm nhận…Mục sư mời tôi và mọi người, là khoảng gần mười người, đi ăn trưa. Tôi được mời đích danh, và Mục sư Liêm nói thẳng là cuộc gặp này chủ yếu để mời tôi đi ăn, chúc mừng tôi đã đạt giải nhì với một tác phẩm truyện dài trong cuộc thi của Giáo phận Xuân Lộc.

Tôi thấy mình thật thiếu sót khi không thể đem theo tác phẩm đó đến đây, tặng nó cho Mục sư. Và cho đến bây giờ, khi tôi đang thức đến gần 3 giờ sáng để gõ câu truyện này, thì tôi vẫn còn không biết bản thảo 250 trang đó, nó đã được in ra sách chưa…?

Sau bữa trưa, là café trò chuyện. Vài người tỏ rõ sự nhiệt thành muốn Mục sư đến thăm nhà. Tôi lại “bơ” đi. Không mời và cũng không nói gì về việc đến nhà tôi. Vì nhà tôi là nơi tôi dành riêng cho con trai tôi chơi đùa, nên không có bàn ghế và những thứ để có thể tiếp đón người lớn. Đồ chơi thì la liệt khắp nhà như những cái bẫy, bước đi không để ý là dẫm vào đau điếng người. Nên tôi lại một lần nữa là người thiếu sót.

Tôi nghĩ có thể sẽ không bao giờ gặp lại. Mà cuộc đời thì mấy ai biết được ngày mai. Năm trước, khi lần đầu gặp nhóm, tôi cũng không nghĩ sẽ gặp lại Mục sư vào năm sau. Và sau cuộc gặp năm nay, ai biết sẽ có thêm những lần hội ngộ hay chẳng bao giờ nữa? Nhưng dù có gặp nữa hay không, trong lòng tôi luôn ghi nhớ sự trân trọng mà Mục sư Liêm đã dành cho tôi. Sự trân trọng đó đem lại cho tôi nhiều bài học nhỏ mà vô cùng sâu sắc trong cách cư xử giữa người với người, giữa người Công Giáo và người Tin Lành.
Nếu biết trân trọng nhau, Công Giáo và Tin Lành đã không căng thẳng đến thế.

Tôi biết tôi đã viết ra đây một câu truyện thật tẻ nhạt, với vài chi tiết nhỏ. Nó hoàn toàn là câu chuyện thật, (chỉ khác cái tên của Mục sư) vừa mới diễn ra và vẫn đang tiếp diễn. Nó cũng là góc nhìn nhỏ hẹp của tôi về một vùng tâm linh rất rộng lớn mang tên Công Giáo và Tin Lành.

Lúc này, tôi đang ngồi một mình trong nhà, giữa màn đêm tĩnh mịch, với một vài ngôi sao lấp lánh trên nền trời thăm thẳm đen.

Tôi mơ màng nghĩ đến một sự hòa hợp, vào ngày mai… khi ánh bình minh lại rạng rỡ chiếu tỏa khắp mặt đất. Và người ta, dù Tin Lành hay Công Giáo, cùng nắm chặt tay nhau tiến về phía Ánh Sáng Chân Lý ….

Đại lễ và những sự hy sinh thầm lặng

Trải qua nhiều năm trời qua đi khi được hồng phúc dự Đại Hội Thánh Mẫu của quý Cha Dòng Mẹ Cứu Chuộc tổ chức hang năm vào những ngày đầu tháng 8 thì hình ảnh ấn tượng nhất và đọng lại trong tôi nhiếu nhất đó là chiếc xe … bán tải range rover cứ chạy vòng vòng Trung Tâm Thánh Mẫu vào các giờ nghỉ trưa để … gom rác. Khuôn mặt vui tươi phục vụ của quý Thầy đã để lại trong long khách hành hương một tâm hồn đẹp. Khi thấy các thầy phục vụ gom rác như vậy, cũng có những người đi dự hành hương “động lòng trắc ẩn” đi theo gom rác với các thầy.

Phải nói rằng chỉ lơ ra một chút hoặc quên hoặc không có chữ “tâm” dù là thu gom rác thì không thể tưởng tượng được con số gần 100 ngàn người trong các kỳ Thánh Mẫu sẽ như thế nào trong khuôn viên của Chi Dòng. Cũng chính vì với tất cả tấm lòng nên rồi những ngày Thánh Mẫu khép lại thì những thùng rác cuối cùng cũng được thu dọn để trả lại mặt bằng như chưa từng có những ngày đại lễ đã qua.

Và rồi, những ngày không phải to như Đại Hội Thánh Mẫu như là lễ khấn dòng, lễ trao sứ vụ linh mục, đại hội giáo lý, đại hội giới trẻ cũng thế, cũng rất cần những tâm hồn quảng đại phục vụ những công việc không tên để mang lại bầu khí trong lành và vệ sinh sạch sẽ cho những ai đến tham dự. Cạnh những người lo vệ sinh, ẩm thực đó thì lại có đội ngũ âm thanh, ánh sang nhưng lúc nào cũng ở trong “bóng tối”, ở hậu trường để phục vụ cho nhu cầu của Thánh Lễ, của Đại Hội.

Những năm gần đây, với nền kinh tế và khoa học phát triển, sẽ thiết sót nếu không nhắc đến đội ngũ quay phim, chụp hình … họ là những người đi trước về sau, đứng nắng trùm mưa để có những bức hình và thước phim đẹp. Nhưng, chưa dừng ở chuyện phục vụ, cần phải nói them là họ có những tấm lòng.

Tất cả khởi đi từ tấm lòng để rồi mọi người có những khoảnh khắc khó quên.

Có nhiều người chỉ biết niềm vui của mình mà quên đi những con người ở trong hậu trường, ở đàng sau ta để tôn vinh vẻ đẹp tự nhiên của ta. Có khi, có người còn chả nhớ đến người tài xế đã đưa mình vượt chặng đường dài để đi Lễ. Có khi vào bàn tiệc nhưng chả nhớ đến những người đã phục vụ mình. Dù sao đi chăng nữa họ cũng là người đồng loại và người giúp ta “đi đến nơi về đến chốn” bằng tất cả tấm lòng thành.

Những người quay phim dựng ảnh mãi mãi vẫn là những kẻ đến trước về sau và mãi mãi đứng sau ống kính để chỉ biết phục vụ niềm vui của người khác mà thôi.

Còn nhớ kỷ niệm Kim Khánh Giáo Phận Buôn Ma Thuột, để có những bức ảnh và khoảnh khắc đẹp của “chàng mũ đỏ hát trong mưa” (Đức Cha Vinh sơn Nguyễn Văn Bản đã không ngần ngại cầm micro để cùng với cộng đoàn hát bài Lạy Chúa chúng con về từ bốn phương trời …). Để có những bức hình đó, phải chăng chính là do tay thợ săn ảnh và săn hình chịu thương và chịu khó. Còn nhớ đêm hôm đó, người chịu thương chịu khó đó chính là Anh Nguyễn Thương và nhóm anh em truyền thông của Anh. Anh hy sinh tất cả và tất cả để có những khung hình đẹp nhất có thể.

Và, chính Anh và Nhóm cũng đã không quản ngại đường xa để lo cho Thánh Lễ phong chức Giám Mục của “chàng Giám Mục Chăn Vịt” Phêrô Huỳnh Văn Hai kính yêu.

Điều tôi cảm thấy ngạc nhiên và thán phục hơn nữa với đội ngũ âm thầm này đó lại là những người … không có đạo.

Như một mối duyên, chúng tôi về Chợ Mới – An Giang và quen được nhóm chụp hình Studio Lê Nghĩa. Tưởng chừng Anh như là một giáo dân nhiệt thành để giúp cho các nữ tu Chúa Quan Phòng nhưng khi phát hiện ra anh tôi càng đáng nể.

5 máy quay phim, 2 máy chụp hình, một máy bay ghi hình từ trên cao cho 1 đại Lễ nhưng khi hỏi ra, Anh trả lời rằng : “Tui lấy 5 triệu cho vui thôi. Tất cả tôi làm giúp cho các dì chứ không hề kinh doanh …”. Hình ảnh người phó nhòm nước da ngăm đen và người vợ nhỏ thó vẫn ở trong tâm trí tôi cho đến giờ này.

Trên đường về, suy nghĩ óc ngắn của tôi thì một đội ngũ quay – chụp và dàn máy cùng với máy bay và mất cả buổi trời quay chụp và mất mấy ngày để edit phim và hình cũng không phải là chuyện đơn giản. Tôi ước tính công cán luôn tất cả ra thành phẩm chắc cũng phải vài chục triệu là ít chứ không phải dừng lại ở con số 5. 5 triệu mà anh Nghĩa nhận chắc có lẽ đủ tiền mua băng đĩa và làm … nhãn.

Thế đó, cạnh đời ta vẫn có nhiều và rất nhiều tâm hồ quãng đại để phục vụ cho Giáo Hội bằng cách này hay cách khác trong khả năng nhỏ bé của mình. Hình ảnh và tấm gương của anh Nghĩa, của các nhóm truyền thông vô vị lợi vẫn là nguồn lực thúc đẩy mỗi người chúng ta làm một chút gì đó lại là “chút mắm muối cho đời”.

Có khi ta không cầm được máy chụp, có khi ta không cầm được máy quay để quay phim chụp hình như những người nghệ sĩ tài hoa thì ta cũng có khả năng để nhặt một cọng rác, gom một chút thức ăn thừa ngay tại bàn cơm của ta. Chỉ cần một chút, một chút xíu sự cộng tác, chia sẻ của ta thì hậu trường của các ngày Đại Lễ sẽ mau chóng sạch sẽ trở lại như ban đầu khi chưa là Lễ.

Xin cảm ơn, cảm ơn tất cả những tâm hồn quảng đại, những tấm long luôn luôn phục vụ vô vị lợi … Tất cả chính là nguồn động lực cho tôi và nhiều người khác nữa phải nhìn lại chính mình và cũng cần phải cân chỉnh lại để phục vụ mọi người một cách tốt hơn, một cách đẹp hơn bằng tất cả tấm lòng