Chuỗi Mân Côi giúp con yêu mến Giáo hội

Ngày chúng tôi còn bé tí xíu đã được nghe Cha Xứ kể chuyện có người thanh niên kia nhờ ngày nào cũng đọc ba kinh Kính Mừng trước khi ngủ mà được Đức Mẹ cứu khỏi hoả ngục. Tuổi thơ tôi còn đọng lại với ký ức cứ mỗi tối tiếng loa phóng thanh từ nhà xứ vang lên lời kinh Kính Mừng và cả giáo xứ đọc theo. Hồi ấy tự do giữ đạo nên những việc đạo đức chung còn dễ thực hiện.

Nhờ Cha xứ, tôi thấy kinh Kính Mừng gần gũi hơn với mình. Ngày ấy, khi nhận được một tràng hạt, chúng tôi vui mừng lắm, dường như trẻ con bây giờ đã có đôi phần khác đi.

Tôi lớn lên, đi vào đời bằng những nẻo đường khá là vất vả. Vất vả về cuộc sống và cả vất vả về tâm linh. Thuở mới lớn bạn bè tôi thấy có gì không hài lòng với ai trong Hội Thánh là muốn theo đạo khác. Tôi không thoát khỏi cám dỗ ấy. Có lần tôi thưa với Cha Linh Hướng: “Nếu không có Chúa Thánh Thể, không có Đức Mẹ và không có Đức Giáo Hoàng thì chắc con sẽ theo… một đạo khác”. Cha cười vui vẻ vì ngài hiểu rằng nói như tôi thì nghĩa là chẳng đời nào xa được Hội Thánh vốn thánh thiện dù vẫn còn bất toàn này.

Nói đến Hội Thánh Công Giáo là nói đến Chúa Thánh Thể, Đức Maria và Đấng thay mặt Chúa Kytô (và dĩ nhiên cùng với toàn thể đoàn dân thánh). Nhưng suy cho cùng, thì tất cả các giá trị ấy đều nằm trong chuỗi Mân Côi.

Dĩ nhiên Thánh Lễ, các Bí Tích và các giờ Kinh Phụng Vụ mới là việc thờ phượng chính thức của Hội Thánh. Nhưng trong lòng đạo đức của những người con Đức Maria, chuỗi Mân Côi là lời cầu nguyện đơn sơ mà hữu hiệu.

Chuỗi Mân Côi tuyệt diệu. Có Thánh Giá Chúa Giêsu. Có hình ảnh Mẹ. Có lời kinh vinh danh Thiên Chúa. Có lời cầu nguyện cho Giáo Hội đang thanh luyện. Chưa hết, những kinh Kính Mừng chính là lời kinh Truyền Tin cho Mầu Nhiệm Nhập Thể. Và trên hết là lời Kinh Lạy Cha do chính Chúa Giêsu truyền dạy.

Những chi tiết của Chuỗi Mân Côi rất giống nhiều thành phần của Thánh Lễ, dù không thể sánh với hy tế Thánh Lễ.

Tôi có người anh lớp trên ở Ban Mê Thuột, anh em quen gọi thân thương là Già Làng Ski dù anh chưa già. Lần đầu lên Tây nguyên ghé thăm anh, ăn cơm ở nhà anh, tôi thấy anh bắt đầu bữa ăn bằng kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng. Tôi được anh chia sẻ về kinh Kính Mừng như sau: khi chúng ta đọc Kinh Kính Mừng là có Mẹ Maria và Chúa Ba Ngôi hiện diện. Mà có Chúa và Đức Mẹ thì cũng có cả triều thần thánh trên trời ngự đến.

Một ý nghĩ thật đặc biệt! Chúng ta cũng có thể nói thêm rằng Kinh Mân côi gắn kết chúng ta với Giáo Hội lữ hành. Có buổi đọc kinh nào của giáo dân mà không có kinh Kính Mừng? Có ai đi ngang qua núi Đức Mẹ đứng lại cầu nguyện mà không thầm thĩ kinh Kính Mừng?

Bây giờ ít thấy người ta đeo tràng hạt hay để tràng hạt trong túi áo. Nhưng giới trẻ lại có thói quen đeo nhẫn hay vòng cổ tay có mười hạt để đọc kinh Kính Mừng. Hình ảnh đẹp quá. Ra đường thấy ai đeo chuỗi Mân Côi bất cứ hình thức nào đều có thể nhận ra là người có đạo. Thật tuyệt.

Như thế, tràng chuỗi Mân côi là dấu hiệu một con người gắn bó với Hội Thánh. Tôi rất thích áo dòng của các Cha Dòng Chúa Cứu Thế vì có thêm tràng hạt dài đeo ngang trên người. Thấy tràng hạt ấy là biết các ngài gắn bó với Hội Thánh đến mức nào. Các soeurs và các bà đạo đức siêng năng lần hạt hơn đám khô đạo như chúng tôi. Lên xe buýt, mình lo nhìn phố phường, đôi khi nhìn lại thấy vài người lặng lẽ lần hạt, mình tự xấu hổ. Nhờ những hình ảnh ấy, chúng ta thêm lòng yêu mến Mẹ Maria và Hội Thánh.

Chúng ta nhớ trong mười lăm lời Mẹ hứa qua Thánh Domonico có hai lời này: “Những ai đọc kinh Mân Côi đều là con cái Mẹ và anh em với Chúa Giêsu.” “Tôn sùng chuỗi Mân Côi là dấu chắc chắn được ơn cứu rỗi.” Hai lời này có mối liên hệ quá rõ ràng. Đọc kinh Mân Côi là thuộc về Hội Thánh, cộng đoàn những người được thừa tự lời hứa cứu độ.

Đã sắp hết tháng Mân Côi. Nhưng kinh Mân Côi không thể chỉ gói gọn trong một tháng, mà chắc chắn Mẹ muốn mỗi tháng đều là tháng Mân Côi. Mỗi năm đều là năm Mân Côi. Cả đời con người chúng ta là đời Mân Côi. Như thế là bởi vì nơi kinh Mân Côi, chúng ta gắn liền với Hội Thánh và ơn cứu độ.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc hơn mọi người phụ nữ…”

Điều kiện lãnh nhận ơn Đại xá trong tháng 11 – cầu cho các đẳng linh hồn

Những ai muốn lãnh ơn xá, dù là tiểu xá, đều phải sống trong tình trạng Thánh Sủng, và mỗi năm ít nhất phải xưng tội 1 lần theo luật buộc, nghĩa là không vướng mắc tội trọng.

Lãnh Ơn Đại Xá trong 8 ngày đầu.Viếng nhà thờ từ trưa ngày 1 tháng 11 đến nửa đêm ngày 2 tháng 11.Hoặc viếng nghĩa trang trong vòng 8 ngày đầu (từ ngày 1 đến 8 tháng 11).Khi viếng, đọc một kinh Lạy Cha, một kinh Tin Kính, lãnh được một ơn đại xá và nhường lại cho các đẳng linh hồn.Xưng tội, rước lễ trong ngày hôm đó, cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng.(nếu không xưng tội được đúng ngày lãnh ơn Đại Toàn Xá, thì có thể xưng tội trong 8 ngày trước hoặc trong vòng một tuần kể từ sau cái ngày lãnh ơn Đại Tòan Xá)

Các ngày khác trong năm, khi đi viếng nghĩa trang và cầu nguyện cho các đẳng, được hưởng ơn tiểu xá. Mọi tín hữu có thể lãnh đại xá, tiểu xá cho mình hoặc nhường lại cho các đẳng linh hồn.

Điều lệ lãnh nhận ơn xá.Một ơn xá sẽ tạm tha tội chúng ta đã trót phạm.Ơn tiểu xá là ơn được tạm tha xóa một phần nào tội vạ chúng ta đã phạm (thường là tội nhẹ).Ơn Đại Xá được tha hết mọi tội lỗi, tội trọng và tội nhẹ, với điều kiện phải xưng tội, rước lễ trong 8 ngày trước hoặc trong vòng một tuần kể từ sau cái ngày lãnh ơn Đại Tòan Xá.Cả hai ơn đại xá và tiểu xá đều có thể nhường luôn cho kẻ đã qua đời, nhưng theo chỉ ý.Kể từ TÔNG HUẤN GIÁO LÝ ÂN XÁ (Apostolic Constitution) của Đức Giáo Hoàng Paulô VI về các Ân Xá, thì ơn tiểu xá không có tính biểu hiện về thời gian, ngày hay năm..v.v. (lãnh bất cứ lúc nào).

Ơn Đại xá mỗi ngày chỉ được lãnh có một lần thôi, ngoại trừ lúc nguy tử.Những ai muốn lãnh ơn đại xá, phải hội đủ những điều kiện sau đây: Xưng tội, Rước Lễ, và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng, và phải chừa bỏ mọi bám dính quyến luyến tội lỗi, ngay cả tội nhẹ. Nếu không hội đủ điều kiện trên, thì chỉ lãnh nhận ơn tiểu xá.

Những ai muốn lãnh ơn xá, dù là tiểu xá, đều phải sống trong tình trạng Thánh Sủng, và mỗi năm ít nhất phải xưng tội 1 lần theo luật buộc, nghĩa là không vướng mắc tội trọng.

Hít thở trong tình yêu thương dịu ngọt của Thiên Chúa

Cuộc sống có những góc khuất ít khi con để tâm. Hôm nay con xin tập luyện cầu nguyện một chút, để có thể trải nghiệm những khoảnh khắc khác nhau của cuộc sống, để con thêm lòng biết ơn và yêu mến Chúa, để con thêm yêu người và yêu đời.

Chọn một nơi không khí trong lành, yên tĩnh, thoáng mát, con ngồi xuống, cảm nhận và hòa mình vào thiên nhiên đất trời. Con hình dung Chúa như người cha nhân hậu, như người mẹ hiền, như người bạn tốt lành, như người anh chị em thân mến đang ngắm nhìn con trong lặng thinh. Nhắm mắt lại, con bắt đầu tập trung vào hơi thở. Những lần hít vào – thở ra cứ rõ nét dần và thêm sâu lắng. Con có thể nghe thấy tiếng thở của mình. Con có thể cảm nhận được nhịp thở đều đều. Con có thể nghe thấy nhịp đập của trái tim mình.

Con có thể cảm nhận được luồng khí mát lành đi vào miệng, vào mũi, vào cơ thể và lan tỏa mọi ngóc ngách của thân thể. Con có thể cảm nhận luồng khí thở ra mang nhiều hơi nóng với nhiều tạp niệm. Con có thể cảm thấy những luồng khí mạnh nhẹ, nóng lạnh khác nhau đang thổi qua, đang chạm vào da thịt mình.

Giờ đây, với mỗi nhịp thở, con thêm chút tập luyện. Mỗi lần hít vào, con nhớ đến một ơn xin tốt lành mà con ước mong Chúa ban cho con. Mỗi lần chỉ một mà thôi. Và có thể lặp lại như thế bao nhiêu lần cho tới khi con cảm thấy thỏa lòng, và rồi con sẽ chuyển sang xin ơn khác. Mỗi lần thở ra, con nhớ đến một tội hoặc một tật xấu mà con ước muốn Chúa lấy đi khỏi lòng con. Cũng thế, mỗi lần chỉ một thôi, cho đến khi con thấy thỏa lòng.

Cứ như thế, mỗi lần hít vào là mỗi lần luồng khí ân sủng của Chúa đi vào, và mỗi lần thở ra là mỗi lần Chúa đang thanh luyện tâm hồn con. Nếu trải qua một thời gian, con thấy không biết xin thêm ơn gì nữa cho hiện tại, con sẽ chuyển qua tạ ơn Chúa, tạ ơn từng ơn một, từ ơn thường ngày cho đến những ơn đặc biệt, từng ơn một từng ơn một thật cụ thể.

Khi nhắm mắt như thế, con thử hình dung mắt mình không bao giờ mở ra, giống như những người bị mù. Con hình dung ra bao nhiêu bất lợi con phải đối diện. Con gặp khủng hoảng ngay trong những hình dung của mình. Con dừng lại từng cuộc khủng hoảng lớn nhỏ ấy, để nghiền ngẫm, để nghĩ giải pháp, để biết xin ơn, để biết cách phải sống thế nào, để tìm cách vượt thắng từng cuộc khủng hoảng ấy. Trong lúc đó, con tiếp tục thở từng nhịp thở của mình.

Vẫn tiếp tục tiến trình này, con nghĩ đến một người bị mù tử thủa mới sinh. Con ngắm nhìn họ trong tâm hồn mình trong khi mắt con vẫn nhắm. Con vẫn hít thở đều, và thử hình dung xem, họ có khuôn mặt như thế nào, xem con có thể đồng cảm với họ cách nào, xem con có thể nói chuyện với họ làm sao, xem con có thể trở thành một người bạn của họ hay không.

Bây giờ, con tiếp tục ngắm nhìn trong tâm hồn mình, một người thanh niên là nam hoặc nữ, vốn sáng mắt và thành công, nhưng vì một lý do nào đó, mà họ không còn nhìn thấy nữa, mắt họ vĩnh viễn không thấy nữa. Con thử đặt mình vào những trải nghiệm của họ, vào những đau khổ và cuộc khủng hoảng của họ. Nhịp thở của con dường như dồn dập hơn. Và lúc đó, con nhìn đến Chúa trong tâm hồn mình, con để ý xem ánh mắt và nét mặt của Ngài khi ấy đang thế nào.

Từ một nơi không khí trong lành, yên tĩnh, thoáng mát, con chuyển sang chọn một nơi dễ gây bức bối nóng nảy khó chịu, hoặc một nơi ẩm thấp u ám. Khi chuyển đổi khung cảnh như thế, con thực hành lại các bước con đã làm ở trên. Từ đó, con có thể nhận thấy những khác biệt. Từ đó, con có thể rút ra những bài học xương máu cho bản thân.

Giờ đây, trở về cuộc sống thường ngày, thỉnh thoảng con dừng lại giây lát, để ý đến nhịp thở của mình. Hít vào một cái, con nhớ đến một ơn mà con đang thực sự cần lúc này. Thở ra một cái, con nhớ đến một điều tệ hại của bản thân mà con đang cần Chúa giúp con thay đổi. Sau giây lát ấy, con lại tiếp tục làm việc học tập và sống.

Những giây phút ngắn ngủi như thế, tựa những lời nguyện ngắn và đẹp dâng lên Thiên Chúa. Cũng vậy, khi nhìn người khác, con không còn thở dài, mà thở những nhịp thở rất nhẹ và thanh thản, con dành ra giây lát để nhìn khuôn mặt họ với ánh mắt cảm thông và vui tươi của con. Nếu chưa làm được, thì con cố gắng chăm chú nhìn vào Chúa Giêsu trong tâm hồn mình, dần dần con sẽ làm được! Tạ ơn Chúa muôn đời!

Những kho lớn hơn

Một hôm, có người trong đám đông nói với Ðức Giêsu rằng: “Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi.”Người đáp: “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?”

Và Người nói với họ: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải hễ ai được dư giả, thì mạng sống người ấy nhờ của cải mà được bảo đảm đâu.” Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này: “Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới nghĩ bụng rằng: “Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!” Rồi ông ta tự bảo: “Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giời ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!” Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: “Ðồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.”

Suy niệm: Cái kho là quan trọng. Kho bạc quan trọng đối với một đất nước. Kho lẫm cần cho người làm nghề nông. Mỗi gia đình, mỗi công ty thường có kho riêng.Có thể là một tủ sắt để trong nhà hay ở ngân hàng. Mọi lợi nhuận đều thu vào kho. Ai cũng muốn cho kho của mình bành trướng.

Sau một vụ mùa bội thu, mối bận tâm lớn nhất của ông phú hộ trong dụ ngôn là tìm cho ra chỗ để tích trữ hoa màu của mình, vì những kho cũ không đủ sức chứa nữa. Cuối cùng ông đã tìm ra giải pháp này:
phá những kho cũ, làm những kho mới lớn hơn, rồi bỏ tất cả hoa màu, của cải vào đó, khóa lại cho thật kỹ, đề phòng kẻ trộm. Khi nhà kho đã an toàn thì tương lai của ông vững vàng ổn định.

Nhiều của cải cho phép ông sống thoải mái trong nhiều năm. Những cái kho lớn cho ông tha hồ vui chơi, ăn uống. Ông thấy mình chẳng cần đến Chúa, chẳng cần đến ai. Của cải trong kho bảo đảm cho ông sống hạnh phúc.Những cái kho là nơi ông đặt lòng mình (x. Lc 12,34).

Xin đừng ai xâm phạm vào chỗ thiêng liêng ấy. Kho là nơi của cải đổ vào, sinh sôi nẩy nở. Kho không phải là chỗ chia sẻ cho người khác. Ông phú hộ sống cô độc, khép kín như cánh cửa kho. Ông sống với cái kho, sống nhờ cái kho.Ông tưởng mình đã tính toán khôn ngoan,nhưng ông không ngờ cái chết đến lúc đêm khuya, hay có thể có biết bao rủi ro khác xảy đến. Ông chợt nhận ra mình phải bỏ lại tất cả.

Cái kho không níu được ông, cũng không vững như ông nghĩ. Những gì ông thu tích như giọt nước lọt qua kẽ tay.Ai trong chúng ta cũng có một hay nhiều kho.Có thể chúng ta ôm mộng làm giàu hay đang giàu lên, chúng ta định nới kho cũ hay xây kho mới. Chúng ta chăm chút cái kho cho con cháu mai này.

Thật ra của cải không xấu, xây kho cũng không xấu. “Nhưng phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam” (12,15). Phải mở rộng những cánh cửa kho của mình,để kho không phải chỉ là nơi tích trữ cho tôi, nhưng là phương tiện để tôi giúp đỡ tha nhân.

Ðừng để nhà kho, két sắt, ví tiền thành mục đích.Người giàu đáng yêu trước mặt Thiên Chúa là người biết mở kho để trao đi và thấy Thiên Chúa liên tục làm cho kho mình đầy lại. Làm thế nào để khi ra trước toà Chúa, chúng ta thấy kho của mình trống trơn vì vừa mới cho đi tất cả.

Cầu nguyện:Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng tấm bánh để dành của con thuộc về người đói,chiếc áo nằm trong tủ thuộc về người trần trụi,tiền bạc con cất giấu thuộc về người thiếu thốn.Lạy Cha, có bao điều con giữ mà chẳng dùng,có bao điều con lãng phí bên cạnh những Ladarô túng quẫn,có bao điều con hưởng lợi dựa trên nỗi đau của người khác,có bao điều con định mua sắm dù chẳng có nhu cầu.Con hiểu rằng nguồn gốc sự bất công chẳng ở đâu xa.Nó nằm ngay nơi sự khép kín của lòng con.Con phải chịu trách nhiệm về cảnh người nghèo trong xã hội.

Lạy Cha chí nhân,vũ trụ, trái đất và tất cả tài nguyên của nó là quà tặng Cha cho mọi người có quyền hưởng.Cha để cho có sự chênh lệch, thiếu hụt,vì Cha muốn chúng con san sẻ cho nhau.Thế giới còn nhiều người đói nghèo là vì chúng con giữ quá điều cần giữ.Xin dạy chúng con biết cách đầu tư làm giàu,nhờ sống chia sẻ yêu thương. Amen.

Tại sao lại đi tu?

Là tu sĩ, tôi thường được nhiều người hỏi: “Tại sao bạn lại đi tu?” Với tôi hoặc bất cứ người tu sĩ nào, hẳn đây là câu hỏi ý nghĩa và quan trọng.

Ý nghĩa vì nó giúp tu sĩ định hướng được cuộc đời mình khuôn theo tiếng gọi của Thiên Chúa. Và quan trọng vì khi tìm thấy động lực ơn gọi và đáp trả tiếng gọi của Chúa, người tu sĩ nhận được niềm vui bình an để tiến bước. Tuy nhiên trước câu hỏi này, người tu sĩ không thể trả lời rốt ráo một lần. Đó là cả một hành trình đời tu, để trước Thiên Chúa, người tu sĩ được mời gọi làm mới lại ơn gọi tu trì của mình. Bởi đó, mỗi lần nghe người khác hỏi mình, hoặc chính mình chất vấn bản thân: “Tại sao lại đi tu?”, hy vọng đó là cơ hội để người tu sĩ gần hơn với Thiên Chúa.

Nhớ lại thời Đức Giêsu, Ngài kêu gọi mười hai tông đồ để đi theo Ngài. Một cách nào đó, họ là những tu sĩ đầu tiên và trực tiếp được Đức Giêsu gọi chọn để ở với Ngài. Trong hành trình ấy, Tin Mừng thuật lại nhiều câu chuyện cho thấy các ông không phải lúc nào cũng muốn theo Thầy Giêsu một cách trọn vẹn. Hơn nữa, không ít lần các ông đi theo Thầy chỉ để được tiếng tăm, quyền lực, được lợi lộc trần gian. Do đó đứng trước lời tiên báo rằng Thầy sẽ phải chịu chết, chịu bách hại, họ phản đối hoặc làm ngơ. Chỉ sau khi Đức Giêsu phục sinh, các ông mới theo Giêsu một cách trọn vẹn, dám sống chết để loan báo Tin mừng, làm chứng cho Thầy.

Tu sĩ thời nào cũng luôn là người được Thiên Chúa mời gọi để bước theo Thầy Giêsu. Trên con đường ấy người tu sĩ được mời gọi từ bỏ mọi thứ để làm vinh danh Chúa hơn. Đây đó nhiều người tưởng các tu sĩ đi tu để tìm quyền cao chức trọng, an nhàn sung túc. Đúng là những thứ đó luôn cám dỗ, bủa vây người tu sĩ, khiến họ vất vả chiến đấu để loại bỏ từng ngày. Người tu sĩ mong ước mỗi ngày vươn đến lòng mến nồng nàn với Đấng mà họ khấn hứa bước theo. Điều ấy có nghĩa là người tu sĩ không tìm lợi lộc cho riêng mình, nhưng hoàn toàn để Thiên Chúa được cả sáng, ý Cha được trọn lành trong sứ mạng và cuộc đời người tu sĩ.

Ngoài câu hỏi trên, bạn bè tôi thường hỏi thêm “Đi tu có sướng không, có tự do không?” Cảm ơn bạn đã hỏi, đã giúp tôi nhìn lại ơn gọi để tiếp tục bước tới với Thầy Giêsu. Dĩ nhiên hiếm người tu sĩ nào một sớm một chiều mà hoàn toàn biết Thiên Chúa muốn mình bước vào con đường dâng hiến. Đó là một hành trình đời tu. Mỗi ngày đứng trước câu hỏi ấy, mình thấy đời tu vẫn còn hấp dẫn và cho mình hạnh phúc vì có Thầy Giêsu, thế là mình tự do bước tiếp!

Dĩ nhiên đi tu không sung sướng hoặc an nhàn theo kiểu thế gian như người ta thường nghĩ. Cũng như bao người muốn hạnh phúc và thành công, người tu sĩ cũng phải tập chiến đấu với những cám dỗ thế gian. Họ được mời gọi để học hành nghiêm túc, cầu nguyện liên lỷ, huấn luyện lâu dài và từ bỏ mỗi ngày. Rồi trong cánh đồng sứ mạng, họ vui buồn với Thầy Giêsu trong những công việc phục vụ hằng ngày. Họ ước mong mang về cho Thiên Chúa càng nhiều linh hồn càng tốt. Dẫu đời tu có vất vả khó khăn, nhưng người tu sĩ không cho phép mình bỏ buộc. Hơn nữa, họ được ban nhiều bình an trong tâm hồn, vì họ có được tương quan mật thiết với Thiên Chúa. Đó là chìa khóa để giúp họ sống vui phục vụ.

Bạn biết đấy, mỗi ơn gọi đều có những nét đẹp riêng. Ơn gọi gia đình cho người ta hạnh phúc bên mái ấm gia đình. Từng thành viên được mời gọi để sống theo ý Chúa cụ thể trong gia đình mình. Đời tu cung thế. Người tu sĩ thấy mình hạnh phúc để chu toàn những điều kiện khi bước theo Thầy Giêsu. Điều kiện ấy là từ bỏ mọi sự, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Thầy. Do đó họ vui sống ba lời khấn: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Vậy bạn hỏi “Tại sao người ta lại đi tu?”, chắn hẳn tại vì họ muốn sống theo những lời mời gọi này của Thầy Giêsu dành cho họ. Ngài không gọi mọi người phải trở nên người tu sĩ, nhưng Ngài chỉ chọn riêng những ai Ngài muốn. Đó là ơn gọi tu trì. Còn người khác, Ngài muốn họ hạnh phúc bước vào một ơn gọi khác.

Đứng trước câu hỏi trên, chắc hẳn mỗi người tu sĩ đều có câu trả lời cho riêng mình. Ước mong mỗi ngày câu trả lời cũng chính là cuộc sống triển nở của người tu sĩ, gần hơn với Thầy Chí Thánh. Được như thế, cuộc sống tu trì không sầu buồn như lắm người tưởng, không chán ngán như nhiều người nghĩ. Ngược lại, đó là cuộc sống của hạnh phúc bình an trong tâm hồn, của niềm vui khi bước theo Thầy Giêsu trong muôn nẻo đường sứ mạng.

Chia sẻ vài điều với bạn, hy vọng bạn cũng cầu nguyện thêm cho các tu sĩ. Chúng ta cầu chúc cho họ từng ngày họ nhận được niềm vui của Thầy Giêsu. Hy vọng họ không biến đời tu thành một nghề nghiệp đơn thuần để tìm vinh hoa quyền thế. Ngược lại, ước sao mỗi người sống đời thành hiến tự do đáp lại lời mời gọi từ bỏ mọi sự của Thầy Giêsu trong niềm vui và bình an. Được như thế chúng ta tin rằng đi tu là để sống vui với Giêsu và thuộc trọn về Giêsu trong cuộc sống hằng ngày.

Cầu nguyện cho người bạn đời theo phương pháp gợi nhớ từ đỉnh đầu đến ngón chân

Lời cầu nguyện có thể tạo nên sự biến đổi hoàn toàn. Mỗi ngày bạn nên dành vài phút để cầu nguyện cho vợ hay chồng của mình. Bạn có thể in các hình ảnh dưới đây và gắn chúng trong nhà, nơi nào bạn thấy thích hợp; bạn có thể gắn lên gương hoặc tủ quần áo, và trong khi đánh răng hoặc mặc quần áo … bạn có thể đọc và cầu nguyện cho vợ hay chồng của mình.

Ruth Bell Graham khuyên những người vợ “hãy nói với chồng mình những điều tích cực, và hãy tâm sự với Chúa về những điều tiêu cực.” Hãy dâng lên Chúa những bận tâm của bạn. Bạn cũng nên trung thành cầu nguyện cho chồng mình mỗi ngày, và bạn sẽ nhận thấy sự biến đổi không chỉ nơi anh ấy mà còn trong chính bản thân bạn .

Dĩ nhiên, chúng ta không cần phải đợi đến lúc một vài rắc rối hay bất hòa nảy sinh mới bắt đầu thực hành cầu nguyện này. Cầu nguyện phải là một thói quen của cuộc sống. Chúng ta cần thực hành điều này một cách liên tục và “không ngừng nghỉ” (1Tx 5: 7).

Món nợ khổng lồ và kinh khủng với các thai nhi

Hơn một lần chúng tôi đã có tâm sự về một nỗi buồn của những người Bảo Vệ Sự Sống (BVSS), đặc biệt là phía những anh em Linh Mục chúng tôi. Đó là chuyện ngang qua hàng ngàn trường hợp tư vấn Bảo Vệ Sự Sống, chúng tôi rút ra được một kết luận bàng hoàng: thuyết phục một người Công Giáo bỏ ý định phá thai khó hơn gấp nhiều lần so với một người không phải Công Giáo!

Mới đây, khi mấy anh em chúng tôi có việc phải đi giảng Đại Phúc xa, Mục Vụ BVSS ở Sàigòn chúng tôi phải cậy nhờ đến các cha khác trong cộng đoàn, trong đó có cha An Phong Phạm Gia Thụy. Cha An Phong là Bề Trên Tập Viện của chúng tôi gần hai mươi năm về trước, sau đó ngài còn là cha giáo môn Luân Lý Khai Khoa và Chuyên Biệt cho chúng tôi khi ở Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT).

Đi xa về, chúng tôi đến chào ngài ngay để cám ơn, ngài vui lắm, bảo là ở Sàigòn trong một thời gian ngắn, ngài đã cứu được mấy ca suýt phá thai. Vừa vui một chút, mặt ngài buồn hẳn đi, chau mày bảo: “Trời ơi, tôi phải mất cả giờ đồng hồ với một ca Công Giáo, trong khi những người không phải là Công Giáo, tôi chỉ nói thoáng qua một chút là họ hiểu ngay rằng không được phép làm như thế ! Đấy là chuyện lạ, đáng phải suy nghĩ, lương tâm của không ít người Công Giáo mình bị lệch lạc dị dạng thế nào đấy…”

Chúng tôi chưa thể làm được một thống kê chi tiết và sâu sát về vấn đề này, nhưng rõ ràng người Công Giáo, đặc biệt là ở những vùng toàn tòng Công Giáo. Nhiều, nhiều lắm những trường hợp thuộc các vùng có truyền thống Công Giáo lâu đời của miền Bắc, miền Trung hay vùng của người di cư 54 vào miền Nam. Nếu có xảy ra với trường hợp gia đình có một bên là Đạo theo, thì ý muốn phá thai lại thường đến từ phía người Đạo gốc!

Rõ ràng khi đối diện với vấn nạn có thai ngoài ý muốn, người ta đã phản ứng ngược với Tin Mừng, chọn lấy quyết định không có một chút gì là Tin Mừng. Họ bám chặt vào những lý luận biện hộ về quy chế xã hội (Tôi là công nhân viên Nhà Nước, bà xã đẻ đứa thứ ba thì coi như tôi bị rắc rối to ! ), về kinh tế sự nghiệp ( Tôi đang làm ăn thua lỗ, lấy gì cho vợ mang bầu, sanh con, rồi còn nuôi ăn học ? ), về danh dự sĩ diện ( Tôi ở trong Hội Đồng Giáo Xứ, mặt mũi nào tôi nhìn cha xứ với lại đọc Sách Thánh khi con tôi chửa hoang ? ), cả về giáo dục đạo đức nữa chứ ! ( Tôi là mẹ chúng nó, lộ chuyện này ra, làm sao mà tôi còn giáo dục được mấy đứa con gái kia ? ).

Còn đối với bản thân người phụ nữ có ý muốn phá thai, đó là vấn đề trách nhiệm liên đới chằng chịt với người thân ( Bố mẹ con ở quê có thể phải bị quỳ lạy giữa Nhà Thờ xin lỗi cha xứ và cộng đoàn, thôi thà con chịu tội phá thai còn hơn… ).

Có khá nhiều trường hợp bản thân cha mẹ người phá thai hoặc chính người phá thai lại là người trong các đoàn thể như Giáo Lý Viên, huynh trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể, Legio, họ có cách lý luận thản nhiên đến rùng mình: “Phá rồi đi xưng tội, mới chỉ là một giọt máu ấy mà !”

Vấn đề đặt ra là toàn bộ cơ chế của Đạo mà Hội Thánh đã gầy dựng tại Việt Nam hàng mấy trăm năm, lại thêm nếp sống Đạo trong Giáo Xứ từ bao đời với một hệ thống Giáo Lý kín mít từ bé đến lớn, với các ban ngành đoàn thể hàng dọc hàng ngang chằng chịt và chặt chẽ, vậy mà tất cả dường như lại không đương cự nổi với cơn lũ quét của cuộc đời tục hóa. Phải nói là gần như không có tôn giáo nào trên thế giới lại có được cái khung giữ Đạo và sống Đạo hoàn chỉnh như Công Giáo chúng ta. Thế nhưng đến khi giáp mặt với thế gian, chúng ta thấy lộ ra hàng loạt những lỗ hổng, bất cập, suy thoái về Tín Lý và Luân Lý, về lương tri và phán đoán ngay từ trong gia đình ra đến Giáo Xứ, từ cá nhân cho đến tập thể.

Chúng ta không phủ nhận lúa tốt của Tin Mừng vẫn đang lớn mạnh, hứa hẹn những vụ mùa bội thu cho Hội Thánh. Nhưng cạnh đó, chúng ta cũng cần khiêm tốn để tự nhận ra cỏ lùng cũng đang âm thầm đua theo, tăng trưởng dữ dội và bắt đầu hoành hành phá hoại ghê gớm.

Hình như Hội Thánh chúng ta đã làm được nhiều việc lắm, nhưng mạnh về chiều rộng và chiều cao mà chưa thật sự đạt được nhiều về chiều sâu và chiều xa. Người lớn thì kinh hạt lễ lạc quá tốt, giới trẻ thì sinh hoạt các mặt phong trào khá nhộn nhịp rôm rả, nhưng việc huấn luyện lương tâm thì không có hoặc có mà không đủ liều lượng và nồng độ, không cập nhật kịp những phán đoán và nhận định trước sức phát triển quá nhanh của thời đại. Cái nôi yêu thương của gia đình lại ngày càng lỏng lẻo nhợt nhạt, không còn là chỗ dựa nâng đỡ mà ngược lại, lắm khi gia đình còn áp đặt thêm sức ép của vị kỷ hẹp hòi, sĩ diện hão, danh dự bề ngoài. Và hậu quả là con người lấy mình làm trung tâm, Thiên Chúa bị từ khước, Sự Sống bị tổn thương.

Hội Thánh vẫn mở ra liên tiếp trong những năm đặc biệt, thậm chí còn có những năm được gọi là Năm Thánh. Bên cạnh việc nhìn lại quá khứ để vui mừng tạ ơn Thiên Chúa, ắt là chúng ta cần phải dừng lại trong hiện tại để nhận diện những trách nhiệm của chúng ta, Giáo Sĩ cũng như Giáo Dân, Giáo Xứ và gia đình, trong lãnh vực giáo dục Đức Tin, giáo dục lương tâm Kitô Giáo. Rồi chúng ta còn phải định hướng được cho tương lai mình sao cho không lạc bước khỏi con đường mang tên Giêsu.

Riêng trong Mục Vụ Bảo Vệ Sự Sống, đây là thời điểm chưa đến nỗi quá muộn để ngỏ lời kêu gọi toàn Dân Chúa hãy đón nhận và sống theo tinh thần của Evangelium Vitae, một văn kiện có thể xem như là di huấn thiêng liêng về Sự Sống của Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô đệ nhị. Không làm được điều này, lại không chịu làm ngay, chúng ta mắc một món nợ khổng lồ và kinh khủng với các thai nhi trước mặt Chúa và Hội Thánh. Không ít đâu, cả mấy triệu em bé bị giết đi hàng năm tại Việt Nam!

Lm. QUANG UY, DCCT, Chúa Nhật 5.7.2009 – 1.10.2017

Đừng thủ đoạn cũng đừng giả hình

Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta ơn để nhận ra sự thật trong nội tâm mình. Đức Thánh Cha đã dâng lời cầu nguyện ấy trong thánh lễ sáng nay tại nhà nguyện Marta.

Tha thứ là ơn nhưng không.Bài đọc trích thư của thánh Phaolô tông đồ gửi giáo đoàn Roma (Rm 4,1-8) cho chúng ta biết ơn tha thứ của Thiên Chúa thực sự là gì. Đó là một ơn nhưng không, đó là ơn sủng Thiên Chúa ban, đó là ý muốn yêu thương của Thiên Chúa. Sự tha thứ không theo kiểu chúng ta nghĩ, và sự tha thứ không phải là do những việc chúng ta làm.

Những gì chúng ta làm là để đáp lại tình yêu nhưng không mà Thiên Chúa đã trao tặng chúng ta. Những việc ta làm là để minh chứng, để chứng thực về ơn tha thứ mà chúng ta được lãnh nhận và sinh hoa kết trái. Sự thánh thiện của chúng ta hoàn toàn là do chúng ta nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa. Như Thánh Vịnh có lời cầu nguyện: “Phúc cho kẻ tội lỗi được thứ tha. Phúc cho người không bị Chúa hạch tội.” Thiên Chúa là Đấng thứ tha. Ngài tha thứ cho ta tội nguyên tổ và biết bao tội ta đã phạm. Ngài tha thứ hoài tha thứ mãi. Chúng ta được tha thứ, không bao giờ là vì những việc tốt lành ta đã làm. Chúng ta được tha thứ, chỉ vì Thiên Chúa đã Đấng giàu lòng từ nhân đã tha thứ cho ta. Và chúng ta có thể đáp lại ơn tha thứ ấy bằng những việc làm tốt lành.

Cần thật thà.Trong bài Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 12,1-7), Chúa Giêsu nói về những kẻ công chính theo vẻ bề ngoài. Bề ngoài họ ra vẻ công chính thánh thiện, nhưng kỳ thực họ sống giả hình. Bên ngoài là tốt đẹp, nhưng bên trong thì nhơ bẩn. Bên ngoài thì làm ra vẻ ăn chay cầu nguyện bố thí, nhưng bên trong thì trống rỗng và xấu xa.

Họ sống với những thủ đoạn trong tâm hồn, trong lối sống, và làm ra vẻ thánh thiện. Chúa Giêsu luôn muốn chúng ta phải trung thực trong tâm hồn. Và nếu có điều gì đó có vẻ bên ngoài là sự thật, thì trước tiên điều ấy phải là sự thật trong cõi lòng. Do đó, Chúa đã khuyên chúng ta, là khi cầu nguyện, nên cầu nguyện nơi kín đáo. Khi ăn chay, thì đừng tỏ ra là mình ăn chay. Khi bố thí giúp đỡ người khác, thì làm cách kín đáo, việc tay trái chớ cho tay phải biết.

Xin ơn nhận biết tội lỗi bản thân.Đối với những kẻ sống giả hình, cái mẽ bề ngoài của họ chỉ tựa “bong bóng xà phòng” nay còn mai mất. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta có sự hội nhất trong cuộc sống, có sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa việc làm và đời sống. Những kẻ giả hình thì làm những điều xấu xa. Giả hình là một lối sống quá xấu xa. Như trong Thánh Vịnh, chúng ta hãy cầu xin Chúa ơn nhận biết sự thật. Lời cầu nguyện này rất đẹp: “Lạy Chúa, xin cho con biết tội con đã phạm. Con không che giấu tội con. Con không lừa dối linh hồn con. Con xin xưng thú với Chúa tội lỗi của con.” Sự thật ấy luôn ở trước mặt Chúa, luôn luôn là như thế. Khi chúng ta thân thưa sự thật ấy với Chúa, Chúa sẽ tha thứ cho chúng ta.

Khi đạo đức giả trở thành một loại thói quen, thì thói quen giả hình ấy dẫn tới chỗ việc đổ thừa đổ lỗi cho người khác. Chúng ta đừng sống như thế, đừng đổ lỗi cho người khác, nhưng hãy tìm hiểu sự khôn ngoan để biết tự trách bản thân, để biết thân thưa với Chúa tội lỗi của mình, để được Chúa thứ tha.

3 phút hồi tâm: sống lòng thương xót

Hãy hình dung bạn đang trong vòng tay Thiên Chúa. Hãy cảm nhận sự ấm áp, tình yêu và sự sống đang tỏa lan quanh bạn. Hãy thở những hơi thở thật thoải mái và bắt đầu giây phút hồi tâm.

Lời Chúa (Mt 9,37-38).Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.

Suy niệm.Đoạn Tin Mừng theo thánh Mát-thêu cho thấy Chúa Giê-su đã nhận ra nhu cầu của người khác ra sao và Ngài thể hiện lòng thương xót thế nào. Nhu cầu của dân Chúa quả là rất nhiều. Hàng ngày, chúng ta nghe thấy biết bao câu chuyện liên quan tới bệnh tật, thất nghiệp, xung đột gia đình, bất ổn chính trị, phân biệt chủng tộc, nghèo đói, chiến tranh hay thiên tai loạn lạc. Chắc chắn, chúng ta không thể giúp đỡ và đáp ứng tất cả các nhu cầu đó. Tuy nhiên, nếu chúng ta sử dụng tốt nhất những tài năng và quà tặng Chúa ban để góp phần xoa dịu những khó khăn gian khổ của người khác, thì chúng ta đang thực thi sứ điệp thương xót của Đức Giê-su.

Câu hỏi phản tỉnh.Lần gần đây nhất tôi nhận ra nhu cầu của người khác là ở đâu Tôi đã được đánh động ra sao để đáp lại các nhu cầu của người khác?

Lời nguyện.(Hãy thưa chuyện với Thiên Chúa bằng lời nguyện dưới đây hoặc bằng những lời tâm sự của bạn)

Lạy Chúa, xin giúp con nhận ra quà tặng Chúa ban để con có thể phục vụ những ai đang sống trong cảnh khó khăn thiếu thốn.

Đừng để mình bị rơi vào ba loại dại khờ

Thật ngu ngốc khi không còn biết lắng nghe Lời Chúa. Đừng để mình bị rơi vào sự ngu ngốc ấy. Đức Thánh Cha chia sẻ như thế trong Thánh Lễ sáng nay tại nhà nguyện Marta.

Ba nhóm người ngu ngốc.Trong bài Tin Mừng hôm nay (Lc 11:37-41), Chúa Giêsu đã mắng ông Pharisêu rằng: Đồ ngốc! Có ba nhóm người bị coi là ngốc và sẽ dẫn đến chỗ tham nhũng, dẫn đến chỗ hư hỏng.

Trước hết là nhóm các nhà luật sĩ. Chúa mắng họ, bởi vì các nhà luật sĩ giống như những mồ mả tô vôi, chỉ đẹp bên ngoài để che đậy thực tế xấu xa tham nhũng vơ vét bên trong. Bên ngoài làm như thể là đẹp lắm, là công chính lắm, nhưng bên trong thì hư hỏng hư danh phù vân. Nhóm thứ hai là nhiều người ngoại. Họ bị hư hỏng bởi thói thờ ngẫu tượng. Họ tráo đổi vinh quang của Thiên Chúa để dành vinh quang ấy cho các ngẫu tượng. Họ có thể đánh tráo các lý do để rồi thờ ngẫu tượng, ví như chủ nghĩa tiêu thụ, ví như vị thần của lợi lộc. Tiếp đến, nhóm ngốc thứ ba là một số Kitô hữu, vì họ không còn là Kitô hữu nữa, mà bị thay đổi thành những người chạy “theo một thứ ý thực hệ của chủ nghĩa Kitô giáo”, và rồi kết cục họ cũng hư hỏng.

Dại khờ là do không biết lắng nghe.Ngu ngốc có nghĩa là không nghe, ngu ngốc có nghĩa là không biết lắng nghe. Khi không có khả năng lắng nghe Lời Chúa, khi không để cho Lời Chúa ở lại, thì Lời ấy không thể đi vào. Kẻ ngu dại thì không biết nghe. Họ nghe mà không lắng nghe. Họ luôn làm như thế. Vì lẽ đó, Lời Chúa không thể đi vào tâm hồn của họ, bởi vì trong lòng họ không còn chỗ cho tình yêu. Nếu biết để cho Lời Chúa đi vào cõi lòng, Lời ấy sẽ biến đổi quan niệm của chúng ta về thực tại.

Thế nhưng kẻ ngu ngốc không biết lắng nghe. Thái độ điếc lác ấy dẫn đến chỗ họ tham nhũng và bị hư hỏng. Với họ, Lời Chúa không thể đi vào, vì trong con tim họ không còn chỗ cho tình yêu, cũng chẳng còn chỗ cho tự do. Khi làm như thế, họ trở thành nô lệ, vì họ tráo đổi giữa sự thật của Thiên Chúa với sự gian dối, và họ đi thờ phượng tạo vật chứ không thờ phượng Đấng Tạo Hóa.

Đừng để mình bị dại khờ.Khi ấy họ không còn tự do, không còn biết nghe, họ bị điếc nội tâm. Tâm hồn họ không có chỗ cho tình yêu cho tự do, và vì thế họ trở thành nô lệ. Còn tôi, tôi có biết nghe Lời Chúa không? Tôi có để cho Lời Chúa thấm nhập vào lòng mình không? Những lời mà chúng ta nghe trong phần Tung hô Tin Mừng giúp ích rất nhiều: “Lời Thiên Chúa là Lời sống động, hữu hiệu và sắc bén, xuyên thấu tâm hồn và tư tưởng của lòng người”. Lời ấy có tác động lên tôi không, hay là tôi bị điếc? Tôi có biến đổi việc thờ phượng Thiên Chúa thành việc thờ ngẫu tượng hoặc thành các ý thức hệ hay không? Đừng để mình bị rơi vào những sự ngu ngốc ấy.

Nếu chúng ta bị rơi vào sự ngu dại ấy, thì có nghĩa là chúng ta đang rời xa Chúa và quay lưng lại với Chúa. Nhưng hãy nhớ: Chúa là mục tử nhân lành đang chờ đợi chúng ta. Chúa Giêsu chờ đợi và khóc vì chúng ta. Chúa khóc thương thành Giêrusalem. Ngài khóc thương một dân được Thiên Chúa chọn. Ngài thương cho dân, một dân mà Ngài hết mực yêu thương nhưng họ lại dại khờ chạy theo những vẻ bề ngoài, chạy theo thần tượng, chạy theo các ý thức hệ.