Chuyên mục lưu trữ: Suy niệm

Hỏa ngục đời đời

Có một số người không tin có hỏa ngục đời đời, họ lý luận: có cha mẹ nào nỡ trừng phạt con cái mãi mãi, hốn chi là Thiên Chúa là Đấng vô cùng tốt lành? Để có câu trả lời, chúng ta cùng tìm hiểu những điều sau đây:

1. Thiên Chúa đã ban sự tự do cho loài người: chọn Thiên Chúa hay chối bỏ Thiên Chúa. Vì con người có tự do, nên có tránh nhiệm về sự chọn lựa. Kẻ chối bỏ Thiên Chúa là kẻ không muốn đến gần Thiên Chúa, không muốn vào thiên đàng, là vương quốc đời đời hạnh phúc.

2. Thiên Chúa là Đấng vô cùng tốt lành, nhưng Ngài cũng vô cùng chí công. Là Đấng chí công, Ngài không thể để cho kẻ gian ác cũng được hưởng hạnh phúc như người tốt lành trên thiên đàng. Dođó hỏa ngục đành phải có để dành riêng cho quỷ dữ và kẻ gian ác.

3. Trong đời sống có lẽ bạn đã gặp người luôn mang trong tâm trí sự hận thù. Có kẻ còn nói ra ngoài miệng, dù có phải vào hỏa ngục, họ cũng không tha thứ. Có ai lấy Lời Chúa dạy: “Tha thứ thì sẽ được Thiên Chúa tha thứ; không tha thứ thì không được Thiên Chúa thứ tha” khuyên bảo, họ cũng chẳng nge. Những kẻ đã chọn sống với hận thù và mang hận thù theo họ qua bên kia thế giới.

4. Trong đời sống không thiếu những kẻ nhắm mắt, bịt tai, chối bỏ không muốn nge ai nói đến sự hiện hữu của Thiên Chúa, mặc dù có đến 92% cac nhà bác học tin có Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ vạn vật.

5. Giả dụ bạn đi ra ngoài đường và vì không bằng lòng người nào đó, bạn đã đấm vào mặt của hắn. Cái đấm đó, bạn có phần lỗi. Giả dụ cũng quả đấm đó, bạn đấm vào mặt cha hoặc mẹ của bạn, thì cái đấm đó không thể xem ngang hàng với cái đấm bạn đã dành cho kẻ ở ngoài đường, mà phần lỗi của bạn nặng hơn, mọi người sẽ khinh thường bạn, kết án bạn nặng nề hơn rất nhiều, coi bạn là đứa con đáng bị Trời đánh.

6. Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, Đấng vô cùng; loài người là loài thụ tạo, có giới hạn. Không phàm nhân nào có thể ngang tầm với Thiên Chúa, để hiểu sự tôt lành vô cùng; sự thánh khiết vô cùng; sự cao cả vô cùng của Thiên Chúa. Do đó, loài người mãi mãi không thể hiểu tội lỗi xúc phạm đến Thiên Chúa nặng nề như thế nào.

7. Nói về hỏa ngục, Thánh Kinh ghi: “nơi mà lửa không hề tắt, giòi bọ không hề chết..”

8. Có một linh mục trừ quỷ, hỏi quỷ: “Mày đã ở hỏa ngục bao lâu rồi?” Quỷ trong thân xác người bị quỷ nhập, đập mạnh tay xuống chiếc bàn bên cạnh, hét lớn với giọng giận dữ: “Lúc nào cũng chỉ là mới bắt đầu”

9. Thánh Nữ Teresa Avila được Thiên Chúa cho đến hỏa ngục để hiểu một chút khổ hình đời đời như thế nào; bà đã viết: “Thị kiến này cũng làm cho tôi có một ý định dứt khoát rằng trong vấn đề tối quan trọng là việc cứu rỗi các linh hồn, chúng ta chỉ được phép thỏa mãn với điều kiện làm hết mọi việc phải làm, làm hết mọi việc chúng ta có thể làm.”

10. Theo sử liệu của thánh Francesco De Geronimo (1642-1716). Thánh Girolamo là một linh mục dòng Tên, sinh tại Taranto, nhưng hoạt động tông đồ và qua đời tại Napoli, miền Nam nước Ý. Mục vụ nổi bật nhất của ngài là giảng các tuần đại phúc. Vào thời kỳ ấy, các buổi giảng thuyết thường diễn ra nơi các đường phố, tại các công viên, giữa các quảng trường, hay trong các khu vực có những nhà điếm. Mục đích của thánh nhân là mời gọi mọi người hồi tâm thống hối, trở về cùng Thiên Chúa và sống ngay chính.

Một hôm, thánh Geronimo giảng trước đám đông, kéo đến nghe ngài nơi quảng trường thành phố Napoli. Gần đó, trong căn nhà có cửa sổ nhìn xuống quảng trường, có một phụ nữ trắc nết sinh sống. Với chủ đích quấy phá và lấn át tiếng nói của vị thánh, bà cất tiếng la hét ầm ĩ và múa máy lung tung. Mọi lời khuyến cáo bà im đi, đều vô hiệu. Thánh Geronimo đành bỏ dở buổi giảng thuyết hôm ấy.

Ngày hôm sau, thánh nhân trở lại chỗ cũ. Ngạc nhiên vì thấy cửa sổ phòng bà kia đóng kín mít, thánh nhân hỏi lý do tại sao. Người ta cho ngài biết, bà ta đã bất ngờ qua đời trong đêm. Thánh nhân liền nói: “Chúng ta hãy đi xem bà”. Một số đông đi theo ngài và trông thấy xác bà còn nằm sóng soài dưới đất .. Như được linh hứng, thánh nhân cất tiếng hỏi:

– “Hỡi Catarina, nhân danh Chúa, hãy nói cho mọi người đang có mặt đây biết, bà đang ở đâu”. Tức khắc, đôi mắt người quá cố hé mở, đôi môi động đậy. Rồi bằng một giọng khàn khàn, khủng khiếp, bà trả lời:

– “Ở trong Hỏa Ngục .. Tôi bị trầm luân trong Hỏa Ngục đời đời kiếp kiếp!”.
Mọi người hiện diện toát mồ hôi lạnh, dựng tóc gáy!. Lúc xuống cầu thang, thánh Geronimo lẩm nhẩm lập lại:

– “Trong Hỏa Ngục mãi mãi .. Ôi Thiên Chúa công minh, đáng sợ biết là chừng nào!”.

Đa số những người chứng kiến cảnh tượng hãi hùng đó, không muốn trở về nhà, trước khi xét mình kỹ lưỡng, thành tâm thống hối và sốt sắng lãnh nhận bí tích Giải Tội.

Linh mục Francesco De Geronimo được Đức Giáo Hoàng Pio 7 (1800-1823) tôn phong chân phước ngày 2-5-1806 và được Đức Giáo Hoàng Gregorio 16 (1831-1846) nâng lên hàng hiển thánh ngày 26-5-1839. Trong hồ sơ xin phong thánh cho ngài, ghi lại chứng từ của một người như sau:

-“Con có mặt trong biến cố kinh hoàng ấy. Nhưng con không biết trình bày ra sao, diễn tả như thế nào cho đúng tâm tình của con cũng như của mấy người khác. Con chỉ biết nói rằng, cứ mỗi lần có dịp đi ngang quảng trường và trông thấy cánh cửa sổ ấy, con như còn nghe rõ ràng tiếng nói khàn khàn khủng khiếp:

– “Trong Hỏa Ngục .. Tôi bị trầm luân đời đời trong Hỏa Ngục!”.(Một đoạn văn nói về Hỏa ngục của Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt)

Đức Mẹ Maria có đau khổ không?

Nếu được bầu chọn ai là người đau khổ nhất trần gian, chắc nhiều người sẽ bỏ phiếu chọn Đức Trinh Nữ Maria. Tại sao Mẹ là Mẹ của Con Thiên Chúa, Mẹ được nhiều đặc ân và được đưa lên trời cả hồn và xác lại chịu nhiều đau khổ đến thế? Đó phải chăng là câu chuyện nhiệm mầu kể từ ngày sứ thần truyền tin cho tới khi con Mẹ là Đức Giêsu chết trên thập giá. Giáo Hội Công giáo có rất nhiều ngày lễ mừng Đức Mẹ, nhưng ngày 15 tháng 09 hôm nay, Giáo hội mừng lễ Đức Mẹ Sầu Bi.

Nếu đọc lại Tin Mừng, chúng ta nhận thấy Đức Mẹ không đi trên con đường nhung lụa. Sau tiếng xin vâng, Mẹ chấp nhận cùng với con của Mẹ là Đức Giêsu bước vào một hành trình đi ngược với thế gian. Để làm chứng cho Tin Mừng, Mẹ cũng như con của Mẹ phải chịu rất nhiều đau khổ; riêng con của Mẹ còn bị khai trừ và giết chết tại Giêrusalem. Chính dưới chân thập giá trên đồi Can-vê, trái tim Mẹ đau đớn tựa lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn, như lời tiên báo năm xưa của cụ già Simêon dành cho Mẹ.

Thực ra lễ Đức Mẹ sầu bi còn có một tên gọi khác thể hiện những nỗi đau khổ của Mẹ vốn gắn liền với Đức Giêsu: Lễ kính Bảy Sự Thương Khó của Đức Bà. Đó là lần Thánh gia trong đêm tối phải trốn sang Ai-Cập để tránh khỏi cuộc tàn sát của ông vua Hêrôđê Cả bạo tàn. Rồi khi Đức Giêsu lên 12 tuổi, Mẹ hoang mang lo lắng khi lạc mất con, phải mất ba ngày Mẹ và thánh Giuse mới tìm thấy Giêsu trong Đền Thờ. Và năm nỗi đau còn lại là đỉnh điểm của người Mẹ sầu bi khi chứng kiến cuộc thương khó của con mình.

Có nhiều người luận lý tại sao Thiên Chúa quyền năng yêu thương không cất đau khổ khỏi trần gian. Hoặc tại sao lại có đau khổ, và nếu tin Chúa Giêsu tôi có hết khổ đau không. Câu trả lời là không! Như đức Phật nói đời là bể khổ, hoặc như triết gia nói đau khổ là một thực tại. Để vượt qua đau khổ, người ta phải chịu một đau khổ lớn nhất và sau cùng đó là cái chết. Những khổ đau ấy người ta tưởng rằng Đấng Mêsia đến, khổ đau sẽ chấm dứt. Không! Khổ đau vẫn còn đó và chính Con Thiên Chúa xuống thế làm người để „mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta.” Phải chăng đau khổ vẫn luôn là một huyền nhiệm khiến người ta vẫn hoài hứng chịu?

Tuy nhiên, trong Đức Giêsu khổ đau mang một chiều kích của sự sống bình an. Nếu đau khổ có một ý nghĩa và giá trị để giúp con người thành toàn chính mình theo thánh ý Chúa, thì chính đau khổ lại là cơ hội để con người được nên giống Chúa hơn. Hơn ai hết, cuộc sống của Mẹ Maria gắn chặt với cuộc đời của Đức Giêsu. Đức Giêsu vui, Mẹ mừng; Đức Giêsu đau khổ, Mẹ sẽ khổ đau. Đức Giêsu chiến thắng thần chết, Mẹ cũng được phúc lên trời cả hồn và xác. Phải chăng đó là lý do Mẹ hằng tín thác vào Thiên Chúa cho dẫu cuộc đời còn lắm gian nan.

Chắc chắn ai cũng biết nỗi đau tột cùng của Mẹ trong vài ngày con của Mẹ bị bắt, bước vào cuộc thương khó, và chết trong mồ. Chứng kiến từ đầu đến cuối cực hình của Giêsu, trái tim mẹ như ngàn gươm giáo đâu thâu. Mẹ tin rằng Con của Mẹ sẽ chiến thắng, nên Mẹ can đảm theo Đức Giêsu đến cuối con đường. Khi nhìn con chết trên thập giá, Mẹ lặng im nguyện cầu. Lúc này là người Mẹ hết mực yêu thương con, Mẹ đã khóc hết nước mắt khi chứng kiến người con Mẹ hằng yêu dấu chịu khổ đau chết chóc.

Khi ông Gio-xếp hạ xác Đức Giêsu xuống, Mẹ ôm xác con vào lòng. Đó là một buổi chiều tang tóc thê lương. Từ đây Mẹ mất Con, môn đệ mất Thầy, người dân mất vua. Giây phút ấy, Mẹ không chỉ sầu khổ đớn đau, Mẹ còn hoang mang về kế hoạch huy hoàng mà ngày xưa Thiên sứ báo tin cho Mẹ: “Người sẽ nên cao cả…” Không một ngôn từ nào có thể diễn tả nỗi đau buồn của Mẹ lúc này. Cũng chẳng lời nào diễn tả được nỗi đau của người ở lại mất đi người mà mình hằng yêu quý. Có chăng là sự hiện diện để chia vơi nỗi đau với người trong cuộc.

Bởi đó, trong ngày lễ Đức Mẹ Sầu Bi, trong giây phút tột cùng của nỗi đau, hẳn là mỗi người ước mong được khóc, được đau, được thông phần với nỗi đau của Mẹ. Chúng ta cũng bắt chước Mẹ hằng tin tưởng vào Thiên Chúa. Rồi đây Con của Mẹ sẽ sống lại. Lúc ấy vấn nạn trên đây được sáng tỏ hơn trong Đức Giêsu Phục sinh. Bởi nói như cha Teilhard de Chardin SJ: “Ý nghĩa thật sự của Thập Giá không là đau khổ mà là cuộc vượt thoát của con người ra khỏi thế gian này để đạt đến đích điểm thực sự. Đích điểm ấy chính là sự hiệp nhất trong Đức Kitô.”

Chiêm ngắm Mẹ Maria sầu bi, chúng ta nhận ra “người Mẹ đã vững bước trong cuộc lữ hành đức tin, và trung thành hiệp nhất với Con Mẹ cho tới khi đứng dưới chân thập giá, theo đúng chưng trình của Thiên Chúa.” (LG 58). Là con cái của Mẹ, chúng ta cũng hy vọng được chung phần với Mẹ trong những giây phút Mẹ sầu buồn ấy. Để khi đối diện với khó khăn, gian nan của phận người, chúng ta không oán trời trách đất, nhưng vững bước theo Mẹ trong đau khổ. Được như thế, chắc hẳn Mẹ không lãng quên những đau khổ của ta, nhưng Mẹ và Đức Giêsu sẽ ân thưởng hạnh phúc vinh quang.

Trong ngày lễ Đức Mẹ sầu bi, hẳn mỗi người cũng đến nguyện cầu với Mẹ:

“Lạy Mẹ Maria sầu bi, chúng con không có khả năng loại bỏ khổ đau. Đó là thực tại hằng gắn liền với đời sống chúng con. Tuy nhiên với Mẹ và trong Đức Giêsu, chúng con có con đường vững chắc để tìm được hạnh phúc. Khi chúng con kính nhớ tình yêu Mẹ dành cho Thiên Chúa, xin Mẹ giúp chúng con chuyển hóa những đau khổ thành cơ hội đền bù tội lỗi của chúng con. Được như thế, hy vọng Mẹ con mình được trùng phùng trên Thiên Quốc. Nơi ấy không còn khổ đau hay sầu buồn, nhưng chỉ còn hạnh phúc bình an.” Amen.

CÙNG ĐI VỚI CHÚA

Đức Giê-su rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mời Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. (Lc 8,1-2)

Đồng hành với Đức Giê-su, không chỉ có Nhóm Mười Hai, mà còn có các phụ nữ – là những người đã được Ngài trừ cho khỏi quỷ và chữa lành bệnh. Tác giả Lu-ca còn cho biết thêm, họ “lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giê-su và các môn đệ.” Tuy nhiên, không phải chỉ có vậy, đi theo ông thầy Giê-su, họ còn bị đòi hỏi nhiều hơn nữa: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,37). Như vậy, tất cả mọi người, không phân biệt nam hay nữ, giàu hay nghèo, kể cả hạng người tội lỗi, thu thuế hay chài lưới… đều có cơ hội như nhau trong việc bước theo Đức Giê-su. Chỉ cần họ dám sẵn sàng từ bỏ mọi sự để cùng đi với Ngài.

Mời Bạn: Khi cảm nhận được vinh dự làm môn đệ Chúa Ki-tô, thánh Phao-lô đã sung sướng kêu lên: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?” (Rm 8,35). Với thánh Phao-lô, không một sức mạnh nào có thể cản bước ngài trong việc dấn thân cùng Chúa Ki-tô để phục vụ Tin Mừng. Thế còn bạn, liệu có lý do nào quan trọng hơn khiến bạn chùn bước không?

Sống Lời Chúa: Dành trọn Chúa Nhật cho các hoạt động phục vụ Tin Mừng: thăm viếng người đau yếu, cao tuổi…

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, Chúa tin tưởng kêu gọi con đi theo Chúa. Xin đừng để một sức mạnh nào có thể cản bước chân con bước đi theo Chúa.

Bạn cảm thấy nhàm chán với Thánh Lễ? Một phương pháp bảy bước để dễ dàng đến với Thánh Lễ hơn

Một trong số những điệp khúc phổ biến nhất mà tôi nghe được từ phía người trẻ là “Thánh Lễ thật nhàm chán. Các bài giảng quá tẻ nhạt. Tôi không biết tại sao mình lại phải dự lễ hết Chúa nhật này tới Chúa nhật khác.”

Tuy nhiên, hầu hết người trẻ mà tôi biết thì họ thực sự khao khát tham dự Thánh Lễ một cách ý nghĩa hơn. Dẫu biết rằng Thánh Lễ thật phong phú và ý nghĩa nhưng họ vẫn cảm thấy khó chú ý và tập trung. Vì vậy, tôi được mời gọi để đưa ra một vài bước thực hành mà một người có thể thực hiện hầu nhận được sức hút hơn từ Thánh Lễ.

7 bước thực hành giúp bạn cảm thấy Thánh Lễ có ý nghĩa hơn:

1. Đến dự lễ đúng giờ.Đến nhà thờ sớm ít nhất 10 phút trước Thánh Lễ tạo nên một sự khác biệt to lớn. Điều này mang lại cho tâm trí bạn khoảng thời gian để chậm lại trước sự vồn vã của những hoạt động mà bạn vừa bước ra. Tất cả những mối bận tâm thường gây chia trí nhiều, và vì những bài đọc (phụng vụ Lời Chúa) diễn ra gần lúc khởi đầu, bạn bị gắn với những điều vừa bị ngắt quãng nên ít tập trung hơn. Hãy dành khoảng thời gian ngắn trước Thánh Lễ, quỳ gối và thân thưa với Chúa những điều xuất phát từ trong tâm hồn của bạn; dâng cho ngài mọi niềm vui và cả những thách đố mà bạn đang phải đối mặt, khi ấy bạn sẽ cảm nghiệm Thiên Chúa nói với bạn trong suốt Thánh Lễ.

2. Hãy nhớ rằng Mẹ Giáo Hội cần bạn.Có bạn trẻ nói rằng, họ cảm thấy mình tham dự vào Thánh Lễ tích cực hơn khi đóng vai trò nào đó trong Thánh Lễ. Có nhiều sự chọn lựa sẵn có: ca đoàn, đọc sách, dẫn lễ, tiếp đón, những công việc phục vụ bàn thờ hay trang trí nhà thờ. Khi trở thành thành viên trong một trong số những nhóm ấy, bạn sẽ chú tâm vào những gì đang diễn ra trong Thánh Lễ hơn. Bên cạnh đó, việc tham dự vào các nhóm trên sẽ có nhiều hiệu quả tích cực trong đời sống cá nhân của bạn.

3. Tìm chỗ ngồi tốt nhất.Tránh tìm một chỗ ngồi nơi những dãy ghế cuối nhà thờ, ở phía sau, nhất là khi ở phía trên còn nhiều chỗ trống. Có người nói rằng, những chỗ ngồi phía trước nhận lãnh nhiều ân sủng hơn! Việc ngồi lên trên sẽ giúp bạn tránh được những mối gây xao nhãng. Tại sao mọi người lại ao ước ngồi ở dãy ghế đằng trước trong các buổi hòa nhạc hay trong một trò chơi, trong khi chỉ muốn chọn chỗ cuối trong nhà thờ? Quan trọng hơn, hãy cáo lỗi với những đồng bạn của mình và ngồi tác biệt trong suốt Thánh Lễ, nhất là khi bạn bè của bạn có xu hướng trở thành một nguồn gây chia trí. Bạn có thể luôn trả lời họ sau đó mà. Lúc đầu, họ có thể trêu chọc bạn, nhưng cuối cùng họ sẽ tôn trọng bạn thôi. Hãy cầu nguyện cho bạn bè của bạn!

4. Hãy thể hiện giọng hát của bạn.Cầm cuốn sách thánh ca lên và hát. Hiểu từng lời bạn đang hát. Đừng quá bận tâm nếu bạn không có tài năng về ca hát, gần như mọi người đều thế cả. Những người đó thường ở trong ca đoàn đấy. Bạn có thể tưởng tượng mình sẽ chán ngấy thế nào khi đi tới một buổi hòa nhạc mà không biết bất kỳ bài hát nào trong đó? Đúng vậy! Hãy tham dự vào những nghi thức, ngay cả lúc đầu bạn không hiểu nhiều về nghi thức ấy, hãy đi một con đường dài. Đừng mong chờ những kết quả đến nhanh.

5. Đăng một dòng trạng thái. “Các bài giảng thật buồn tẻ!” Tôi đã từng nghe lời than như thế. Điều đó có khi xảy ra, nhưng không phải mọi lần đều như vậy; trên thực tế, những bài giảng luôn luôn thú vị và các linh mục chắc hẳn đặt vào trong đó rất nhiều nỗ lực để chuẩn bị. Nếu bạn chán ngấy trong khi nghe những bài giảng ở trường học hay đại học hoặc khi xem tin tức buổi tối hay lướt facebook, nếu mọi thứ đều như thế thì vấn đề là ở phía bạn! Hãy đưa ra cho chính mình một bài tập thực hành. Hãy lắng nghe một bài giảng và cố gắng nắm bắt điểm cốt yếu bài giảng đó trong 140 từ hay ít hơn. Tiếp theo, hãy đăng tóm kết ấy lên dòng trạng thái (tweet) của bạn sau Thánh Lễ. Hẳn sẽ khó khăn hơn bạn tưởng.

6. Hãy so sánh 167 với 1 .Hãy nhớ rằng, Thánh Lễ là việc tạ ơn Chúa và nếu là người đến nhà thờ ngày Chúa nhật thì bạn đang trao dâng Chúa sự chú tâm trọn vẹn trong một giờ hay ít hơn. Nhưng, 167 giờ còn lại mỗi tuần, Thiên Chúa trao ban cho bạn như một món quà và không rời bước trên con đường của bạn. Hãy tự tra vấn chính mình xem có biết bao ơn lành bạn đã nhận được từ Thiên Chúa. Vậy, việc chúng ta dành một giờ mỗi tuần cho việc thờ phượng Đấng Tạo Hóa với tất cả tâm hồn của mình lại chẳng là điều phải đạo và chính đáng sao?

7. Bước cuối hoàn hảo – Đức Maria .Bước sau cùng hướng về Đức Maria, Nữ vương Thiên đàng và Mẹ của chúng ta. Hãy xin Mẹ bầu cử cho bạn trong suốt Thánh Lễ. Cầu nguyện cùng Mẹ để Mẹ hướng dẫn và gia tăng sức mạnh. Mẹ đã luôn ở bên Chúa và Mẹ cũng sẽ ở bên chúng ta. Không người nào hiểu bạn hơn Đức Maria đâu.

Theo 7 bước này, bạn sẽ dần tìm thấy vẻ đẹp của Thánh Lễ mở ra trước mắt bạn. Cũng như với bất cứ hoạt động nào khác, điều này cũng cần thời gian. Đừng mong chờ phải đạt được chỉ trong Chúa Nhật đầu tiên. Tất cả những nếm cảm lớn lao tăng dần theo thời gian và cùng với sự kiên trì. Bạn không thể tạo nên một bản nhạc hay ngay trong ngày đầu tiên được. Cũng không thể dựng xây Rome chỉ trong một ngày đâu.

BÁC ÁI TRONG BÁC ÁI

có 1 nhà hảo tâm hứa với 1 vị linh mục sẽ quyên góp tiền lương tháng này giúp xây dựng vào quỹ truyền giáo . nhà hảo tâm này rút tiền lương của mình rồi nhanh chân đón taxi vào nhà thờ găp cha . Trên đường đi nhà hảo tâm bất chợt gặp 1 bà lão tay chân run run . có lẽ bị đói lâu ngày . nhà hảo tâm này bèn dừng taxi vội mua 2 ổ bánh mì giúp bà lão . .

Bà lão vội vàng cầm lấy ổ bánh mì rưng rưng nước mắt và vội vàng kêu 4 người con của mình đang nằm thoi thóp trong thùng ve chai kế bên . bà bẽ 2 ổ bánh mì ra thành 4 khúc chia 4 người con . bà nhịn ăn .

Trước sự thương con của bà lão làm nhà hảo tâm quá đổi kinh ngạc . ông khóc và nói bà : Trước giờ con giúp nhiều người có miếng ăn và người được giúp luôn ăn nhanh cho đỡ đói . còn bà tuy đang đói run tay nhưng vẫn dành phần cho các con của mình

Nhà hảo tâm bèn quyết định dành trọn phần lương của mình giúp gia đình bà lão . Nhà hảo tâm đón xe và gặp cha xứ trong nhà thờ

Nhà hảo tâm bùn bùn thưa cha . Con gom tiền lương tính vào giúp Cha nhưng trên đường con đã giúp gia đình bà lão . . . và nhà hảo tâm đã kể câu chuyện vừa xảy ra . Vị linh mục bèn phán . Tạ ơn chúa . Chúa đã thử thách con và nhà hảo tâm này .

Vị linh mục nói với nhà hảo tâm : Anh làm rất tốt . . việc của anh làm còn lớn hơn việc giúp nhà dòng . . vì cứu 1 mạng người hơn xây 7 nhà thờ huống gì anh đã cứu cả 1 gia đình .

Qua câu chuyện này cho thấy khi chúng ta làm bác ái còn có những cái BÁC ÁI TRONG BÁC ÁI .Anh chị em hãy suy niệm .

THA THỨ ĐỂ ĐƯỢC THỨ THA

Nhìn vào thực tế cuộc sống trong xã hội ngày nay, chúng ta thấy đủ mọi vấn đề phức tạp xảy ra. Nguyên nhân của những rắc rối đủ loại ấy là do ai cũng theo đuổi và chủ trương sống chủ thuyết “qui ngã”, tôn thờ cái tôi, chẳng chịu tha thứ cho mình và cho người khác. Đã có biết bao người tự “giải thóat” mình bằng cái chết, vì không tìm được cách nào hóa giải các bế tắc của cuộc sống.

Có biết bao gia đình đang phải đối mặt với khó khăn chồng chất, rơi vào cảnh đổ vỡ, chia ly. Và cũng không thiếu những tổ chức, xã hội đang đi vào ngõ cụt của tình trạng suy vong, có nguy cơ bị xóa sổ trong thời gian gần…. Tất cả đều do thiếu lòng khoan dung tha thứ: tha thứ cho mình và tha thứ cho nhau.

Trong bài Tin mừng hôm nay (Mt 6, 7-15), sau khi dạy các môn đệ lời kinh quan trọng nhất, đẹp nhất và mới nhất, Đức Giêsu yêu cầu các môn đệ phải tha lỗi cho người đồng loại thì mới mong được Thiên Chúa thứ tha tội lỗi cho mình: “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt 6, 14-15).

Đối với Đức Giêsu, tha thứ cho người khác không hẳn chỉ là sự công bằng, điều phải lẽ: “Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy” (Lc 6, 31) mà còn là điều kiện bắt buộc để được Thiên Chúa tha thứ cho mình: nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Thiên Chúa cứ dựa trên cách hành xử của chúng ta với người đồng loại để phán quyết công trạng của chúng ta.

Thật là logic khi kết hợp giữa sự tha thứ cho nhau với giới răn mến Chúa yêu người. Chúng ta chỉ yêu người khác vì có lòng mến Chúa, và không thể nói mến Chúa nếu không có lòng yêu thương người đồng loại. Sự tha thứ cũng như vậy, không thể được Thiên Chúa tha thứ nếu chính mình không biết tha thứ cho người khác. Dụ ngôn “tên mắc nợ không biết thương xót” (Mt 18, 23- 35) vẫn là một thực tế còn đang xảy ra dưới nhiều hình thức tương tự trong xã hội chúng ta hôm nay.

Tha thứ là việc phải thực hiện ngay nếu không muốn những bất trắc sẽ xảy đến. Hiệu quả của sự tha thứ thật rõ ràng: mình tha thứ cho người ta thì người ta mới tha thứ cho mình. Đức Giêsu đã chẳng dạy chúng ta khi nói: anh em muốn người khác làm cho mình điều gì thì hãy làm cho người ta trước là gì. Kinh hòa bình của thánh Phanxicô có câu thật ý nghĩa, cũng là cách lặp lại đòi hỏi của Đức Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay: “Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ”.

Tha thứ cho nhau là điều cần thiết để được Chúa tha thứ; tuy nhiên nói, hiểu và biết tha thứ là một chuyện còn bắt tay vào thực hiện lại là chuyên khác. Ai cũng có kinh nghiệm rằng tha thứ là việc làm không dễ, nó đòi chúng ta không những nghị lực mà cả lòng khiêm tốn và nhẫn nại. Động lực khiến chúng ta dễ dàng bỏ qua lỗi lầm của người anh chị em trước hết là ý thức mình đã được Thiên Chúa thứ tha trước: vì Chúa đã tha thứ cho chúng ta thì đến lượt chúng ta cũng tha thứ cho người anh chị em của ta. Trong lời cầu nguyện Đức Giêsu dạy chúng ta khiêm tốn thưa với Cha: “xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (Mt 6, 12).

Chính Đức Giêsu đã quả quyết ai thực thi lòng thương xót, người ấy được chúc phúc: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5, 7).Muốn tha thứ đòi chúng ta khiêm tốn đi bước trước: Giacóp tìm đến với Esau (x. St 32-33), Đavít mặc dù có thể giết bố vợ, ông Saul nhưng đã kiềm lòng để tha thứ (x. 1Sm 24).

Tha thứ là hành động của đức tin. Làm sao Đavít có thể tha thứ cho bố vợ, kẻ thù của mình nếu không nhận ra kẻ đáng phải chết ấy đã được Thiên Chúa xức dầu tấn phong? Sau này Đavít đã sọan rất nhiều Thánh vịnh mang nội dung cầu xin Thiên Chúa ban ơn và chỉ cho biết cách tha thứ cho kẻ thù.

Mẫu gương tuyệt hảo của sự tha thứ là Đức Giêsu: không những tha thứ cho những kẻ tố cáo, sỉ nhục, và giết Người, hơn nữa còn cầu xin Cha tha cho họ nữa. Phát xuất từ lòng yêu thương tột cùng nên Đức Giêsu sẵn sàng tha thứ tất cả: thật là quảng đại. Nếu Đức Giêsu – hiện thân lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa không bao giờ mỏi mệt để tha thứ cho chúng ta tất cả: “nếu Chúa chấp tội nào ai được rỗi” (x. Tv 129) thì chúng ta cũng được mời gọi tha thứ cho anh chị em của chúng ta.

Để kết thúc bài suy niệm, xin được trích lại những lời nhắn gởi của Đức Thánh Cha Phanxicô trong phần dẫn nhập các bài giảng tĩnh tâm nhân dịp Năm Thánh Thương Xót dành cho các linh mục và chủng sinh, (từ ngày 1 tới ngày 3 tháng Sáu – 2016): “… không gì kết hợp ta với Thiên Chúa nhiều hơn một hành vi thương xót, chính vì lòng thương xót, Thiên Chúa đã tha thứ tội lỗi ta và ban ơn thánh để ta thực hành các hành vi thương xót nhân danh Ngài.

Không gì củng cố đức tin ta nhiều hơn việc được tẩy sạch mọi tội lỗi. Không gì có thể rõ ràng hơn giáo huấn của tin mừng Mátthêu chương 25 và các mối phúc thật, “phúc thay người có lòng thương xót, vì họ sẽ được thương xót” (Mt 5, 7), đối với cái hiểu của ta về thánh ý Thiên Chúa và sứ vụ Ngài ủy thác cho ta. Ta có thể áp dụng vào lòng thương xót câu Chúa phán rằng “đong đấu nào các con sẽ được đấu đó” (Mt 7, 2)”.

SUY NIỆM CHỌN NHÓM 12

“Suốt đêm, Người cầu nguyện, Người chọn mười hai vị mà Người gọi là Tông đồ”.Phúc Âm: Lc 6, 12-19

Trong những ngày ấy, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện, và suốt đêm, Người cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Sáng ngày, Người gọi các môn đệ và chọn mười hai vị mà Người gọi là Tông đồ: Ðó là Simon, mà Người đặt tên là Phêrô, và em ông là Anrê, Giacôbê và Gioan, Philipphê và Bartôlômêô, Matthêu và Tôma, Giacôbê con ông Alphê và Simon cũng gọi là Nhiệt Thành, Giuđa con ông Giacôbê và Giuđa Iscariốt là kẻ phản bội.

Người đi xuống với các ông, và dừng lại trên một khoảng đất bằng phẳng, có nhóm đông môn đệ cùng đoàn lũ dân chúng đông đảo từ khắp xứ Giuđêa, Giêrusalem và miền duyên hải Tyrô và Siđôn đến nghe Người giảng và để được chữa lành mọi bệnh tật. Cả những người bị quỷ ô uế hành hạ cũng được chữa khỏi, và tất cả đám đông tìm cách chạm tới Người, vì tự nơi Người phát xuất một sức mạnh chữa lành mọi người.

Suy Niệm – Lịch sử ơn cứu rỗi đã khởi đầu và tiếp diễn bằng những cuộc tuyển chọn. Ở khởi đầu lịch sử này, từ trong đám dân du mục vô danh tại miền Lưỡng hà địa, Thiên Chúa đã chọn Abraham; trong những người con của ông, Ngài chỉ chọn Isaac; và trong những người con của Isaac, Ngài chỉ chọn Yacob làm người cha của mười hai chi tộc Israel. Ðể thực hiện cuộc giải phóng con cái Israel ra khỏi ách nô lệ Ai Cập, Ngài đã chọn Môsê làm thủ lãnh. Sau khi Israel đã được Ngài chọn làm dân riêng và qua đó thực thi chương trình cứu rỗi, Thiên Chúa cũng tiếp tục một đường hướng: Ngài chọn lựa một số người và trao cho họ một trách vụ đặc biệt: Ngài đã chọn Ðavít làm vua, thay thế cho Saul; Ngài đã chọn một số người làm ngôn sứ cho Ngài.

Tất cả những chọn lựa của Thiên Chúa đều bất ngờ, nghĩa là vượt lên trên những tiêu chuẩn chọn lựa thông thường của con người. Từ Abraham qua Môsê, đến các ngôn sứ và Ðavít, tất cả đều được chọn lựa không phải vì tài năng đức độ riêng của họ: Môsê chỉ là một người ăn nói ngọng nghịu; Ðavít là cậu bé kém cỏi nhất trong số anh em mình, Yêrêmia, Isaia đều nhận ra nỗi bất lực yếu hèn của mình khi được Thiên Chúa chọn làm ngôn sứ.

Tiếp tục đường lối của Thiên Chúa, Chúa Giêsu cũng đã chọn các môn đệ của Ngài theo những tiêu chuẩn bất ngờ nhất. Mười hai Tông đồ được Ngài chọn làm cộng sự viên thân tín nhất và đặt làm cột trụ Giáo Hội, không phải là bậc tài ba xuất sắc, cũng không phải là thành phần ưu tú thuộc giai cấp thượng lưu trong xã hội; trái lại họ chỉ là những dân chài quê mùa dốt nát miền Galilê; có người xuất thân từ hàng ngũ thu thuế tức là hạng người thường bị khinh bỉ.

Thánh Luca đã ghi lại một chi tiết rất ý nghĩa trong việc lựa chọn của Chúa Giêsu: Ngài đã cầu nguyện suốt đêm. Không ai biết rõ nội dung, nhưng sự liên kết với Thiên Chúa trong cầu nguyện và việc chọn lựa cho thấy tính cách nhưng không của ơn gọi: Thiên Chúa muốn gọi ai tùy Ngài và sự lựa chọn đúng không dựa vào tài đức của con người. Chúa Giêsu đã cầu nguyện, bởi vì Ngài biết rằng tự sức riêng, con người không thể làm được gì. Phêrô đã cảm nghiệm thế nào là sức riêng của con người khi ông chối Chúa ba lần; sự đào thoát của các môn đệ trong những giờ phút nguy ngập nhất của cuộc đời Chúa, và nhất là sự phản bội của Yuđa, là bằng chứng hùng hồn nhất của sức riêng con người. Bỏ mặc một mình, con người chỉ chìm sâu trong vũng lầy của yếu đuối và phản bội.

Từ mười hai người dân chài thất học, Chúa Giêsu đã xây dựng Giáo Hội của Ngài. Nền tảng của một Giáo Hội không phải là sức riêng của con người, mà là sức mạnh của Ðấng đã hứa: “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Chính sự hiện diện sinh động và ơn thánh của Ngài mới có thể làm cho Giáo Hội ấy đứng vững đến độ sức mạnh của hỏa ngục không làm lay chuyển nổi. Thánh Phaolô, người đã từng là kẻ thù số một của Giáo Hội cũng đã bất thần được Chúa Giêsu chọn làm Tông đồ cho dân ngoại. Ngài luôn luôn cảm nhận được sức mạnh của ơn Chúa: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”, hoặc “Nếu phải vinh quang, thì tôi chỉ vinh quang về những yếu đuối của tôi mà thôi, vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh”.

Suy niệm về việc Chúa Giêsu tuyển chọn mười hai Tông đồ của Ngài, chúng ta được mời gọi nhận ra thân phận yếu đuối bất toàn của chúng ta, đồng thời nói lên niềm tín thác của chúng ta vào tình yêu của Ngài. Chỉ có một sức mạnh duy nhất để chúng ta nương tựa vào, đó là sức mạnh của ơn Chúa. Với niềm xác tín đó, thì dù phải trải qua lao đao thử thách, chúng ta vẫn luôn hy vọng rằng tình yêu của Chúa sẽ mang lại những điều thiện hảo cho chúng ta.

Thánh lễ cuối cùng của Đức Thánh Cha tại Colombia

CARTAGENA. Chiều chúa nhật 10-9-2017, trong thánh lễ trước 500 ngàn tín hữu tại Cartagena, ĐTC Phanxicô mời gọi mọi người dân Colombia ”hãy đi bước đầu”, nhất là trong việc kiến tạo một nền văn hóa gặp gỡ và hòa bình.

Thánh lễ được cử hành lúc 4 giờ chiều tại Contecar, một trong những khu vực chính của thành Cartagena, hải cảng quan trọng thứ 4 của toàn Mỹ châu la tinh. Cảng này là một vịnh thiên nhiên rộng hơn 8 ngàn hécta, và sâu 21 mét, chỉ cách kênh đào Panama 265 hải lý. Cảng có hạ tầng cơ cấu và các kỹ thuật tối tân, điều động hơn 40 triệu tấn hàng mỗi năm và tiếp nhận trên 3 ngàn tàu, kể cả những tàu lớn nhất thế giới.

Khu vực Contecar nơi ĐTC chủ sự thánh lễ có thể chứa được 800 ngàn người và cũng thường được dùng cho các biến cố lớn, các sinh hoạt thể thao, công nghệ, âm nhạc và văn hóa.Đến nơi vào lúc 4 giờ chiều, ĐTC đã dùng xe mui trần tiến qua các lối đi để chào thăm các tín hữu và khi đến gần bàn thờ, ngài được một phái đoàn các công nhân hải cảng địa phương đặc biệt chào đón.

Trên lễ đài, có đặt thánh tích của Thánh Phêrô Claver và thánh nữ Maria Bernarda Buetler, gốc Thụy Sĩ, sáng lập dòng các nữ tu thừa sai Capuxin Phan Sinh Đức Mẹ Phù Hộ, được ĐTC Biển Đức 16 tôn phong hiển thánh hồi năm 2008.Đồng tế với ĐTC có đông đảo các GM Colombia và hàng trăm linh mục. Thánh lễ có chủ đề là ”Phẩm giá và các quyền con người”.

Bài giảng của ĐTC . Trong bài giảng, dựa vào bài Tin Mừng trong đó Chúa Giêsu dạy về cách thức sửa lỗi huynh đệ trong cộng đoàn, ĐTC mời gọi mọi người dân Colombia ”hãy đi bước đầu”, nhất là trong việc kiến tạo một nền văn hóa gặp gỡ và hòa bình. Nếu Colombia muốn có một nền hòa bình ổn định và lâu bền, thì cần cấp thiết tiến theo chiều hướng tìm kiếm công ích, thực thi công chính, công lý và tôn trọng bản tính con người với những đòi hỏi đi kèm, chứ không phải chỉ ký kết các hiệp định hòa bình mà thôi. Ngài nói:

”Trong những ngày nay tôi nghe bao nhiêu chứng từ của những người đã đi gặp những kẻ đã gây ra đau khổ tai ương cho họ. Những vết thương kinh khủng mà tôi đã có thể nhìn thấy nơi chính thân thể của họ; những mất mát không thể chữa lành vẫn còn làm cho họ khóc lóc, nhưng những người ấy đã đi, đã thực hiện bước đầu trên con đường khác với những con đường đã đi qua. Vì từ mấy thập niên rồi Colombia đang tìm kiếm hòa bình, và như Chúa Giêsu dạy, – nếu hai bên chỉ đến gần nhau, đối thoại mà thôi thì vẫn không đủ, còn cần có sự can dự của nhiều tác nhân khác trong tiến trình đối thoại chữa lành các tội lỗi nữa. ”Nếu họ không nghe, thì hãy dẫn một hai người nữa đi với con” (Mt 18,16), như Chúa Giêsu đã nói trong Phúc Âm.

Chúng ta đã học biết rằng những con đường bình định, dành ưu tiên cho lý trí trên sự trả thù, sự hòa hợp tế nhị giữa chính trị và luật pháp, không thể loại bỏ những hoạt động của dân chúng. Đề ra những khuôn khổ qui tắc và hiệp định giữa các nhóm chính trị và kinh tế có thiện chí, thì vẫn chưa đủ. Chúa Giêsu tìm ra giải pháp cho sự ác trong cuộc gặp gỡ đích thân giữa các phe với nhau. Ngoài ra, một điều luôn luôn hữu ích, đó là đưa vào trong các tiến trình hòa bình kinh nghiệm của các tầng lớp dân chúng. Những kinh nghiệm này, trong nhiều trường hợp, đã không được để ý tới; cần làm sao để chính các cộng đoàn mang lại những sắc thái cho các hoạt động tập thể tưởng nhớ những gì đã xảy ra.

Tác nhân chính, chủ thể lịch sử của tiến trình này là dân chúng và văn hóa của họ, chứ không phải một giai cấp, một phe phái, một nhóm hoặc một lực lượng ưu tú. Chúng ta không cần một dự phóng của một nhóm ít người nhắm tới một thiểu số, hoặc một nhóm ít người thông thạo chiếm hữu tâm tình của tập thể. Đây là một thỏa thuận để sống chung, một khế ước xã hội và văn hóa” (E.G. 239)

ĐTC khẳng định rằng: chúng ta có thể đóng góp nhiều cho bước đường mới mà Colombia muốn thực hiện. Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta con đường tái hội nhập vào cộng đoàn nhờ một cuộc đối thoại hai người. Không gì có thể thay thế cuộc gặp gỡ chữa lành như thế; không có tiến trình tập thể nào chuẩn chước cho chúng ta thách đố gặp gỡ nhau, giải thích cho nhau, tha thứ. Những vết thương sâu đậm của lịch sử nhất thiết đòi những thẩm quyền qua đó người ta thi hành công lý, trong đó các nạn nhân có thể nhận ra chân lý, thiệt hại được đền bù thích đáng, và hành động minh bạch để tránh tái diễn những tội ác đã xảy ra.

Nhưng tất cả những điều đó mới chỉ để cho chúng ta ở ngưỡng cửa những đòi hỏi của Kitô giáo mà thôi. Chúng ta còn được yêu cầu tạo nên một sự thay đổi từ hạ tầng: đối lại với văn hóa chết chóc, bạo lực, chúng ta đáp lại bằng văn hóa sự sống, văn hóa gặp gỡ.

ĐTC đặt câu hỏi: ”Chúng ta đã hành động thế nào để bênh vực việc gặp gỡ, hòa bình? Chúng ta đã thiếu bỏ sót những gì, khiến cho những hành vi man rợ xảy ra trong đời sống của dân chúng ta? Chúa Giêsu truyền chúng ta phải đối chiếu những cách cư xử, những lối sống gây thiệt hại cho xã hội, phá hủy cộng đoàn.Bao nhiều lần xảy ra những bạo lực, sự loại trừ khỏi xã hội được bình thường hóa, mà chúng ta không lên tiếng, không giơ tay lên tố giác theo tinh thần ngôn sứ.

Cạnh thánh Phêrô Claver, có hàng ngàn Kitô hữu thời ấy, nhưng chỉ có một nhóm rất ít người bắt đầu một nền văn hóa gặp gỡ đi ngược lại. Thánh Phêrô Claver đã biết tái lập phẩm giá và hy vọng cho hàng trăm ngàn người da đen và người nô lệ, họ bị đưa đến đây trong tình trạng vô nhân đạo hoàn toàn, đầy kinh hoàng, mất mát mọi hy vọng. Thánh nhân không có bằng cấp nổi tiếng, thậm chí còn bị coi là người ”tài cán tầm thường”, nhưng ngài có một thiên tài sống trọn vẹn Tin Mừng, gặp gỡ những người bị người khác coi là đồ bỏ.

Nhiều thế kỷ sau đó, ảnh hưởng của vị thừa sai và tông đồ này của Dòng Tên đã được thánh nữ Maria Bernarda Buetler noi theo, thánh nữ đã hiến cuộc đời, tận tụy phục vụ những người nghèo và người bị gạt ra ngoài lề tại chính thành phố Cartagena này”.Tiếp tục bài giảng thánh lễ cuối cùng tại Colombia chiều chúa nhật 10-9, ĐTC cũng nhận xét rằng cả Chúa Giêsu cũng cho chúng ta thấy có thể là người khác khép kín, từ chối thay đổi, ở lỳ trong sự ác của họ. Chúng ta không thể phủ nhận rằng có những người tiếp tục phạm tội làm thương tổn cuộc sống chung và cộng đoàn:

”Tôi nghĩ đến thảm trạng đau thương ma túy, dựa vào đó người ta làm giàu bất chấp các luật lệ luân lý và dân sự; tôi nghĩ đến sự tàn phá các tài nguyên thiên nhiên và làm ô nhiễm hiện nay; thảm trạng bóc lột lao công; tôi nghĩ đến sự buôn bán tiền bạc bất hợp pháp, như đầu cơ tài chánh, thường có tính chất như những ác thú gây thiệt hại cho toàn thể hệ thống kinh tế và xã hội khiến cho hàng triệu người phải chịu nghèo đói; tôi nghĩ đến nạn mại dâm hàng ngày gây thiệt hại cho bao nạn nhân vô tội, nhất là nơi những người trẻ nhất, tước đoạt tương lai của họ; tôi nghĩ đến điều kinh tởm là nạn buôn người, đến các tội ác và lạm dụng chống các trẻ vị thành niên, nạn nô lệ vẫn còn làm lan tràn sự kinh khủng của nó tại bao nhiêu nơi trên thế giới, thảm trạng của bao nhiêu người di dân không được lắng nghe và người ta làm giàu bất hợp pháp trên họ và thậm chí cả một thứ tê liệt luật pháp chủ hòa không để ý đến thân mình của người anh em, thân mình của Chúa Kitô.

Và trước những điều này, chúng ta cần phải được chuẩn bị và có lập trường vững chắc về các nguyên tắc công lý, không tước đoạt điều gì của đức bác ái. Không thể sống chung trong hòa bình mà không làm gì đối với những gì làm hư hỏng cuộc sống và thống lại chính sự sống. Về điểm này, chúng ta nhớ đến tất cả những ngừơi can đảm, không biết mệt mọi, đã làm việc và thậm chí bị mất mạng sống trong việc bảo vệ và bênh đỡ các quyền và phẩm già của con người. Lịch sử cũng đòi chúng ta giống như họ, dấn thân quyết liệt bảo vệ các quyền con người tại thành Cartagena này, nơi mà anh chị em đã chọn làm trụ sở toàn quốc bảo vệ các quyền con người.

Từ biệt . Thánh lễ kết thúc lúc quá 6 giờ rưỡi chiều giờ địa phương. Liền đó, ĐTC đáp trực thăng tới Phi trường quốc tế Rafael Nunez của thành Cartagena. Tại đây ngài được Tổng thống Manuel Santos và Phu nhân, cùng với các quan chức chính quyền và các vị lãnh đạo giáo quyền tiễn biệt.

Sau gần 11 giờ bay, vượt qua 9.100 cây số, chiếc Boeing B787 của hãng Avianca Colombia chở ĐTC, đoàn tháp tùng và hơn 70 ký giả quốc tế đã về đến phi trường Ciampino của Roma lúc gần 13 giờ trưa hôm thứ hai 11-9-2017. Trên đường về Vatican, ĐTC đã ghé lại Đền thờ Đức Bà Cả để cám ơn Đức Mẹ.

Trong vòng 10 tuần lễ nữa, ĐTC lại lên đường thực hiện chuyến viếng Tông du thứ 21 tại nước ngoài, với 2 quốc gia được thăm viếng là Myanmar và Bangladesh.

suy niệm “Khuyên Một Lời Ư”

Khuyên hay không khuyên, đâu là giải pháp của người đời, với vần thơ? Giải hay không giải, vẫn là quyết định của cộng đoàn đấng bậc khôn ngoan đầy kinh nghiệm, trong chung sống. Khuyên và giải, còn là ý tưởng chủ lực của trình thuật, rất hôm nay.

Trình thuật hôm nay, là của thánh Mát-thêu được Phụng vụ Hội thánh rút tiả làm nền hầu khuyên giải thành viên nào đang có vấn đề tranh chấp. Trích đoạn, lấy từ chương 18 có những lời giải khuyên hãy nên sống như Đức Chúa, Đấng từng lân la sống với cộng đoàn đồ đệ thân thương, rất quí mến.Cộng đoàn thánh Mátthêu xưa có các thành viên người gốc Do thái sống ở Antiôkia. Trước đó, cộng đoàn vẫn sống ở vùng phụ cận thành đô Giêrusalem, chốn đào tạo thành viên chuyên nghiệp, rất đạo hạnh. Khi người La Mã tìm đến bách hại, cộng đoàn này đã phải rời thôn làng mình làm dân lưu lạc ngay trong chốn phồn hoa thị thành mang tên Antiôkia, nơi hội ngộ của nền văn hoá giao lưu Âu Á, thời xưa cũ.

Bên trong khu nhà đầy cách biệt, là chốn tách bạch khỏi người Do thái tin vào Đức Giêsu. Vì sự tách bạch này, nên thường xảy đến nhiều cãi tranh, tị nạnh giữa kẻ tin Chúa và người chẳng biết tin vào điều gì. Vào ai. Khiến đôi đàng không thể hoà hợp, chung sống. Từ đó, vì có khó khăn, nên kẻ tin vào Chúa cũng bớt đi sinh hoạt đạo hạnh như trước. Và sự thể ấy dẫn đến tình huống rắc rối với cộng đoàn.

Đó là lý do khiến có nhiều người đến với thánh sử Mát-thêu để được tư vấn về các nguyên tắc chủ chốt khả dĩ giúp họ trở thành cộng đoàn lành thánh sống trong môi trường dù đổi mới. Đây, còn là nguồn hứng khởi khiến thánh sử viết lên chương sách mang nhiều ý nghĩa để rồi tóm kết bằng hai nguyên tắc chính cho cộng đoàn lấy đó mà sống. Nguyên tắc, là: trong cộng đồng dân Chúa không thể và không nên có một ai thấy mình bị lạc lõng. Và, nguyên tắc thứ hai, là: trong cộng đoàn tình thương làm con Chúa, không thể và không nên có thành phần nào bị bỏ rơi, quên lãng. Hoặc, hư mất.

Thánh sử còn quả quyết: giả như cộng đoàn quyết tâm tuân thủ hai nguyên tắc làm nền để sống chung, thì mọi sự cũng sẽ đâu vào đó. Bằng không, chẳng có gì chứng tỏ họ là cộng đoàn Kitô-hữu, đúng ý nghĩa cả. Đó là qui định tư riêng. Qui định đòi chúng dân phải sống, không như thể chế nguội lạnh, mà là gia đình ấm cúng, rất anh em. Đó, cũng là đề nghị được thánh Mát-thêu đặt ở Tin Mừng chương 18. Rủi thay, các đấng bậc chủ quản phụ trách chọn bài đọc cho Phụng vụ Chúa nhật, lại không mấy chú tâm đến ý nghĩa trọn vẹn trong chương này từng qui định.

Ở đầu chương này, đã thấy nổi lên một tham luận, có Chúa dự. Tham luận này xoay quanh câu mà các môn đệ cứ là hỏi nhau: “Ai là người lớn nhất ở Nước Trời, đây? “(Matthew 18:1) Nếu tưởng tượng, người đọc sẽ thấy đồ đệ Chúa quây tụ thành vòng tròn ngồi ở sân làng rồi kháo láo với nhau: “Rồi, Thầy sẽ cho ta biết ai là người lớn nhất. Và, đâu là tiêu chuẩn để định ra người lớn nhất Nước Trời? Chúa chẳng nói gì. Ngài chợt thấy một bé em đang nghịch đất, Ngài bảo bé đến ở giữa vòng tròn, rồi bảo:“Nếu anh em không như trẻ bé mọn, sẽ chẳng vào Nước Trời.” (Matthew 18:3). Và, thánh Mát-thêu triển khai thêm ý nghĩa “nên như trẻ bé mọn”.

“Trẻ bé mọn” đây, nên hiểu theo nghĩa biểu tượng. Bởi thời xưa, ”trẻ bé mọn” không khi nào mang ý nghĩa của những ngây thơ, trong trắng hoặc nét đẹp không hao mòn như ở Anh thời nữ hoàng Victoria. Với thế giới Híp-ri, thì “trẻ bé mọn” là biểu tượng của những kẻ không có quyền, dù quyền hành hay quyền lợi. “Trẻ bé mọn”, là những người nghèo hèn. Là, kẻ bị quên lãng, bỏ ngoài bên xã hội.

Với cộng đoàn Kitô hữu, những người ăn trên ngồi chốc, các bậc vị vọng, đạo hạnh, quyền thế, giàu có, chẳng bao giờ là “trẻ bé mọn” bị quên lãng, hoặc hư mất hết. Như Chúa nói: “Anh em chớ nên khinh thị một ai trong đám trẻ bé mọn này…Con Người đến để cứu cái gì hư mất.”(Matthew 18:10).

Thế nên, nguyên tắc làm “nền” cho cộng đoàn Nước Trời người tín hữu Đức Kitô, là: đón mừng” “trẻ bé mọn”. Nói vắn gọn, thì như thế cũng đủ. “Mừng đón” là câu nói đầu chỉ một hành xử đúng đắn. “Đón mừng”, phải là hành xử rất ban đầu và trước tiên của cộng đoàn. Chí ít, là cộng đoàn dân con của Chúa. Mừng-đón-trẻ-bé-mọn, không là đón mừng các đấng toàn năng, toàn thiện. Mà là, mừng và đón những kẻ sẽ chẳng-bao-giờ-trở-nên-toàn- thiện, tuyệt vời. Đây, là sinh hoạt vào lúc đầu của cộng đoàn dân con Đức Kitô. Cung cách ta mừng đón “trẻ bé mọn” phải khác cung cách đón mừng, rất chung chung. Tức, ta phải mừng đón những “trẻ bé mọn” không hoàn chỉnh, khi họ lạc lõng, hư mất. Đón và mừng những con người bị đồng hoá với “trẻ bé mọn” như thế, tức là không được phép để người ấy lạc lõng, bị bỏ rơi, hư mất

Ai trong chúng ta thực sự, và trên thực tế, từng lạc lõng? Nói nôm na, thì thế này: sống trong cõi đời nhiều bon chen/tranh chấp, ta phải định ra chỗ đứng của mình. Phải biết mình đang ở đâu. Làm sao để người khác tìm ra mình hoặc mình tìm ra người khác đang lạc lõng, hư mất? Đó là kinh nghiệm ban đầu. Đó là cung cách sống để ta luôn tìm thấy những “trẻ bé mọn” sống dưới mức hưởng được may mắn với mọi quyền lợi. Thế nên, ta cũng hiểu được tại sao lại gọi những “trẻ bé mọn” ấy là kẻ lạc lõng, hư mất. Trong khi, họ là người lẽ ra không đáng bị ta quên lãng, coi thường. Họ phải được ta mừng đón và kiếm tìm một cách tích cực, để rồi ta đưa họ vào tận trung tâm điểm của cộng đoàn. Nếu không làm thế, thì không thể và không đáng gọi là thành viên cộng đoàn Kitô-hữu, tức cộng đoàn không có ai và không một ai bị lạc lõng, hư mất.

Đối chọi lại hành xử mừng đón trẻ bé mọn, là cản trở trẻ lạc lõng, hư mất. Cản trở, được coi như một hành động bỉ ổi. Rất tai tiếng. Cản trở tức trở thành sỏi cát lọt trong giầy của trẻ bé hèn mọn vậy. Những người là sỏi cát cản trở bước đi của bọn trẻ bé, lại chính là những người mắc lỗi nặng trong chung sống. Sống rất chung, đời cộng đoàn dân con của Chúa. Người cản trở trẻ bé mọn như thế, chỉ đáng cột cổ vào đá, quăng xuống biển, một hình phạt dành cho lỗi phạm, cũng khá nặng.

Bởi thế nên, thánh Mát-thêu mới tóm tắt giới lệnh căn bản, trong 10 giới lệnh yêu thương bằng câu: “Không được nên cớ vấp phạm cho người nào trong các “trẻ bé mọn” tin vào Ta” (Matthew 18:6-8). Và cả câu 14: “Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không hề có ý để ai trong những trẻ bé mọn này hư mất.”

Nguyên tắc thứ hai cho cộng đoàn chung sống cũng gần giống như nguyên tắc đầu. Tức, trong cộng đoàn Kitô-hữu ta chung sống, không ai được phép có hành xử với mọi thành viên khác như người hư mất, khó thứ tha. Một trong cung cách bị coi là lạc lõng, hư mất, tức là không thể tha thứ cho người ấy. Trong cộng đoàn Hội thánh, không thể có động thái giống như thế. Đó là ý tưởng mà thánh Mát-thêu còn viết nhiều ở các chương đoạn kế tiếp.

Tựu trung, ý tưởng mà thánh nhân muốn nhấn mạnh, là: hãy ra đi mà tìm kiếm những “trẻ bé mọn” đem họ về lại với cộng đoàn. Công tác này, không thể là động thái bốc thăm, may rủi, được. Nhưng, phải là mục tiêu hành động. Là, hành xử mang tính cách xuyên suốt, rất văn hoá. Là, mục tiêu phải đạt chứ không là động thái thích thì làm không thích thì thôi.

Thời buổi hôm nay, còn rất nhiều “trẻ bé mọn” đang lạc lõng bằng cách này hay cách khác qua cách hành xử của ta và “trẻ bé mọn” dễ bị cuốn hút vào chốn “hư mất”, nếu ta không ngó ngàng gì đến họ. Và, vấn đề là hỏi: ta có bỏ công đi tìm những người như thế, mà đưa về “ràn chiên” Hội thánh không?
Tại thành đô Giêrusalem hôm nay, có khu tưởng niệm “những trẻ bé mọn” bị lạc lõng/hư mất trong lò thiêu sống. Bên trong khu này, là phòng tối có những đốm sao lấp lánh chiếu lên ảnh hình và tên tuổi của từng bé em bị lạc lõng, thân hư nát.Và, có cả tiếng giọng ở hậu trường gọi tên em bằng tiếng Aram tựa hồ tiếng của Cừu mẹ Rachel gọi cừu con đang bị lạc.

Chính đó, là ý nghĩa của trích đoạn trình thuật mà thánh sử Mát-thêu, xưa nay muốn diễn tả.
Thánh Hội của ta hôm nay có đang cuồng điên gọi tìm “trẻ bé mọn” đang đi lạc, ở đâu không? Gọi và tìm, như ý tưởng của thánh sử Mát-thêu từng ghi chép? Có hay không, cũng nên tự hỏi: cho đến nay ta đã bao lần;à hạ sỏi trong giầy của trẻ bé mọn? Ngày hôm nay, ta có cảm nghiệm sống thực hiện nguyên tắc/lý tưởng này trong thể chế có tổ chức thành cộng đoàn không? Nếu chưa, thì ta có ý định bắt đầu ngay chưa?

Là thành viên Hội thánh lớn/nhỏ, câu hỏi ấy đã trở thành vấn nạn gửi đến cho người. Cho mình.
Trong tâm tình tìm câu trả đáp cho thoả đáng, cũng nên tìm nguồn hứng khởi ở câu thơ, rằng:

“Lời khuyên không chạm đến tim đau.Tim đau sẽ vọt ngàn tia máu.Đọng lại muôn ngày vết hận sâu…”

Nhà thơ đời vẫn hỏi, như một lời nguyện cầu. Cầu mọi người. Nguyện ở mọi nơi. Cả những nơi có con tim không “vọt ngàn tia máu” xót thương. Tia máu yêu thương những là tìm đường mà mở rộng vòng tay đó những “trẻ bé rất mọn hèn”, còn lưu lạc ở nhiều nơi

PHÚT HỒI TÂM VỚI CÁI ĐẦU, TRÁI TIM VÀ CƠ THỂ

Cảm ơn Photo Thu Hiền đã ghi lại những khoảnh khắc thật cảm động, một bầu khí tràn đầy Chúa trong tâm hồn các bạn trẻ trong ngày Đại Hội Giới Trẻ Hạt Vạn Lộc – Gp Vinh 4/9.

Lạy Chúa, con cảm ơn Chúa đã tạo dựng nên con giống hình ảnh Chúa và cho con được làm người trong cuộc đời này. Thân thể của con là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Trong thinh lặng của thời khắc này, xin Chúa giúp con lắng nghe và chạm tới sự hiện diện của Chúa bằng cơ thể con..

Đó là sự nhẹ nhàng, đều độ của hơi thở… Những chuyển động của suy nghĩ trong tâm trí…đang chạy quanh đầu con.Từng mạch máu luân chuyển trong cơ thể…Từng nhịp đập trái tim con… Và tất cả mọi điều con có thể cảm nhận được trong lúc này…Con biết Chúa đang hiện diện trong con, và bày tỏ cho con biết Chúa đã yêu thương con nhiều hơn khi đã ban tặng cho con sự sống này.

Con xin lỗi Chúa, vì con đã không trân quý sự sống Chúa ban cho con trong thân thể, con đã không chăm sóc thân thể một cách chu đáo, và đôi khi con còn làm cho cơ thể bị tổn thương do nhu cầu làm đẹp, những sở thích mà con cho là hợp thời. Con đã lạm dụng bia, rượu, thuốc lá… Làm hủy hoại thân xác, tinh thần và tâm linh của con.Con đã không kín múc nguồn năng lượng mà Chúa ban cho con mỗi ngày trong lời cầu nguyện…Con xin lỗi Chúa, xin Ngài thứ tha cho con.

Chúa ơi xin hãy sống trong con. Nguyện con trở nên là thân thể của Ngài và là hình ảnh sống động cho Chúa tại thế gian này. Amen